6-2-2012
Các thuật ngữ Ngân hàng (sưu tầm) (8/11/2010 8:32:33 AM)

Với chứng khoán, các chứng chỉ sở hữu cổ phần là loại giấy tờ ghi chép truyền thống, và thường rất tỉ mỉ, về quyền sở hữu cổ phần-nhưng ngày nay chúng càng lúc càng hiếm thấy.


Trước kỷ nguyên hệ thống dữ liệu điện tử, các bằng chứng ghi chép, được gọi là chứng khoán, rất cần thiết cho công việc theo dõi việc đầu tư. Ngày nay, ta thường không cầm các chứng chỉ hiện vật – trên thực tế, một số công ty môi giới còn yêu cầu trả phí để phát hành các chứng chỉ này.  Thay vì các chứng chỉ, ngày nay thông tin được lưu trữ trên các tệp tin của máy tính. Giống như nhiều nhà đầu tư, bạn có thể lựa chọn để cổ phiếu của mình được đăng ký dưới tên các công ty môi giới chứng khoán. Cách này khiến cho việc bán cổ phiếu dễ dàng hơn, vì bạn không cần phải mang các chứng chỉ tới người môi giới nữa. Cũng có nghĩa là an toàn hơn. Hàng tỷ đô-la giá trị chứng khoán nằm trên các chứng chỉ như thế bị thất lạc hoặc bị mất cắp mỗi năm. Tuy nhiên, chứng chỉ chứng khoán vẫn có sự quyến rũ của nó, và thay vì từ bỏ các chứng chỉ vì tính lỗi thời, nhiều công ty đang thiết kế lại chúng để có hình ảnh mới về tính hiện diện. Mỗi chứng chỉ sở hữu cổ phần công ty có dấu hiệu riêng biệt, nhưng đều cùng mang một số nhất định đặc tính hiện diện chung.
  

Số đăng ký được gán cho các chứng chỉ sở hữu cổ phần do Ủy ban quản lý sở giao dịch chứng khoán (SEC) cung cấp là một cách để xác lập hợp lệ và quyền sở hữu. Các chứng chỉ cổ phiếu có thể chiết khấu lấy tiền mặt, nhưng vẫn có một số cách để theo dõi và hạn chế khiến cho việc mua bán các cổ phiếu đánh cắp rất khó khăn.

 
 Dấu công ty của nhà phát hành, có ngày và địa chỉ thành lập, được in dọc theo đáy của chứng chỉ.

  Các chứng chỉ được thiết kế có các mảng màu sẫm trên loại giấy sản xuất theo qui trình đặc biệt để đảm bảo rất khó làm giả. Các hoạ tiết hình học phức tạp bao quanh hình thành nên viền bao quanh được tạo ra bởi các máy đã lập trình theo các sơ đồ riêng biệt khiến cho việc sao chép rất khó khăn. Chúng cũng được in ra từ các loại khuôn intaglio nên hình ảnh in ra có cảm giác nổi lên.

  
 Tên người nắm giữ cổ phiếu (cổ đông) được ghi rõ trên bề mặt của chứng chỉ. Để thực hiện sửa đổi về quyền sở hữu hoặc để mua bán cổ phiếu, người ta phải ký hậu vào mặt sau của chứng chỉ này và nộp lên cho công ty phát hành hoặc nhà môi giới. 
 

Số CUSIP là một số nhận dạng gồm 9 chữ số được gán cho từng cổ phiếu ở Mỹ. Một uỷ ban có tên là Ủy ban về các thủ tục nhận dạng chứng khoán thống nhất được Hiệp hội các nhà ngân hàng Mỹ thành lập để trở thành một phương thức bảo vệ và theo dõi tất cả các chứng khoán được giao dịch.

Mặc dù giá danh định của một cổ phiếu thuộc cổ phần đã có một thời gắn với giá trị đầu tư, ngày nay công ty phát hành chứng khoán chỉ ấn định một con số, điển hình từ 25 cent tới 1 đô-la trên một cổ phiếu, hoàn toàn chỉ để phục vụ chức năng và mục đích ghi chép
 kế toán.   

Ngược lại, giá danh định của trái phiếu, còn gọi là mệnh giá, là một khoản tiền ghi nhận sẽ được trả khi đáo hạn. Khoản tiền lãi mà trái phiếu mang lại cho người đầu tư là một tỷ lệ phần trăm của mệnh giá đó.

Trên chứng chỉ sở hữu chứng khoán, tên của công ty phát hành được in rất rõ ràng. Một hình chân dung người với các đặc tính khuôn mặt nhận dạng rõ rệt bắt buộc phải xuất hiện ít nhất ¾ của trang mặt của cổ phiếu đang giao dịch trên Sở giao dịch chứng khoán New York . Những hình này và các hình ảnh xung quanh hoặc phía sau được bổ sung sửa đổi để tạo dựng hình ảnh mới cho một số công ty. Các ống khói nhả khói chẳng hạn ngày nay biến mất. Sự thay đổi này nhấn mạnh vào trách nhiệm môi trường hoặc thay đổi trong đời sống hiện tại.   
Số cổ phiếu mà chứng chỉ cổ phần đại diện được xuất hiện vài lần trên tờ chứng chỉ.

 
Chứng chỉ tiền gửi (Certificate of deposit / CDs/ CD):

Chứng chỉ tiền gửi là văn bản do ngân hàng phát hành để chứng nhận rằng người sở hữu văn bản đã gửi tiền vào ngân hàng. Chứng chỉ tiên gửi thực chất là lời hứa trả một lượng tiền nhất định cho người sở hữu nó vào một thời điểm nhất định trong tương lai.

Ở Mỹ và Anh, nó là loại trái phiếu "có thể trao đổi", nghĩa là có thể chuyển nhượng đơn giản bằng cách trao cho người mua. Vì vậy, chúng có khả năng thanh toán cao đối với người sở hữu, đồng thời đảm bảo nguồn vốn cho ngân hàng trong một thời gian. Lãi suất của chúng chỉ tiền gửi được trả sáu tháng một lần nếu chứng chỉ tiền gửi có thời hạn trên 1 năm và được trả khi đúng hạn nếu có thời hạn dưới một năm. Chứng chỉ tiền gửi áp dụng lần đầu tiên ở Mỹ vào đầu những năm 60, sau đó được lưu hành ở Anh.

Chứng chỉ tiền gửi có thể chuyển nhượng được ( Negotiable Certificate of Deposit (NCD))

Negotiable Certificate of Deposit (NCD).

Là một công cụ vay nợ do các ngân hàng hoặc các tổ chức tín dụng khác phát hành xác nhận các khoản tiền gửi của người gửi tiền.

Khác với chứng chỉ gửi tiền thông thường, loại này có thể được chuyển nhượng (hoặc bán) cho một người khác mà không bị phạt bởi các ngân hàng phát hành. NCD thường có kỳ hạn từ 3 đến 12 tháng. Để tăng tính hấp dẫn của công cụ này,
 lãi suất áp dụng cho nó thường cao hơn lãi suất của loại tiền gửi cùng kỳ hạn thông thường. Đồng thời ở một số nước, ngân hàng phát hành còn cho phép người sở hữu loại chứng chỉ này có thể bán chúng trước hạn (với một mức giá khấu trừ).

NCD thường dùng để huy động các nguồn vốn lớn. Vì vậy các ngân hàng thường đặt mức tối thiểu cho một NCD. Ở Mỹ, NCD thường có mệnh giá lớn (trên 100.000 USD). NCD có thể bán lại ở
 thị trường thứ cấp.

Hiện nay công cụ này được hầu hết các
 ngân hàng thương mại lớn của Mỹ phát hành và thu được những thành công lớn, với tổng số dư gần đây vượt quá tổng số dư của tín phiếu kho bạc Mỹ. Chúng là những nguồn vốn đặc biệt quan trọng mà các ngân hàng thương mại nhận từ các công ty, các quỹ tương trợ cho thị trường tiền tệ, và các cơ quan của chính phủ.

Chứng khế (Warrants):

Từ này có nghĩa khác nhau khi sử dụng cho chứng khoán và hàng hóa. Ðối với hàng hóa thì đây là biên nhận ám chỉ quyền sở hữu đối với một lô hàng cụ thể nào đó. Ðối với chứng khoán thì đây là một công cụ phái sinh có ngày hết hạn và giá thực hiện cùng với một số điều kiện khác. Chứng khế thường được phát hành gắn liền với một loại chứng khoán khác. Nó cho phép người sở hữu được quyền mua cổ phiếu thường hoặc chuyển đổi chứng khoán thành cổ phiếu thường theo một giá định trước trong một thời hạn nhất định. Giá ước định trên chứng khế và thời hạn của nó thường cao hơn thị giá cổ phiếu tại thời điểm phát hành chứng khế và thời hạn của nó thường dài hơn thời hạn của quyền mua rất nhiều.

Các chứng khế thường được phát hành kèm với
 trái phiếu hoặc cổ phiếu ưu đãi. Đây là điều kiện hấp dẫn đối với các nhà đầu tư và nó có thể làm giảm chi phí phát hành sẽ trở thành hàng hóa, vận động độc lập với chứng khoán gốc và chịu tác động của quy luật cung-cầu trên thị trường.

 
Chứng khoán (Security)

Chứng khoán là các loại giấy tờ có giá và có thể mua bán trên thị trường, gọi là thị trường chứng khoán, khi đó chứng khoán là hàng hóa trên thị trường đó. Dùng Security, nghĩa gốc là an toàn, để gọi tên chứng khoán xuất phát từ việc coi nắm giữ chứng khoán là việc sở hữu an toàn và thuận tiện một tài sản nào đó. Chứng khoán có rất nhiều loại: cổ phiếu, trái phiếu và một số loại khác như quyền mua cổ phiếu mới, hợp đồng tương lai, hợp đồng quyền chọn, chứng chỉ quỹ đầu tư. Trong đó hai dạng chính là cổ phiếu và trái phiếu.

Cổ phiếu
 là chứng từ xác nhận quyền sở hữu và lợi ích hợp pháp của người sở hữu cổ phiếu đối với tài sản hoặc vốn của công ty cổ phần. Khi sở hữu cổ phiếu, người đó trở thành cổ đông của công ty, và có những quyền lợi sau:

- Nhận cổ tức. Cổ tức là một phần trong lợi nhuận kinh doanh của công ty mà mỗi một cổ đông được chia tùy theo tỷ lệ góp vốn. Mức chi trả cũng như hình thức chi trả cổ tức phụ thuộc vào kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty và do Hội đồng Quản trị hoặc Đại hội đồng cổ đông quyết định.

- Quyền mua thêm cổ phiếu mới. Trong quá trình hoạt động, công ty được phép phát hành thêm cổ phiếu để tăng vốn. Để bảo vệ quyền lợi cho các cổ đông hiện tại khi phát hành thêm cổ phiếu công ty thường dành quyền ưu tiên mua thêm cổ phiếu mới cho những cổ đông này tương ứng với tỷ lệ góp vốn của họ với giá ưu đãi hơn so với các cổ đông mới.

- Quyền bỏ phiếu. Cổ đông phổ thông có quyền bỏ phiếu cho các chức vụ quản lý công ty, bỏ phiếu quyết định các vấn đề quan trọng của công ty.

- Quyền tiếp cận thông tin. Cổ đông có quyền được thông báo kịp thời mọi diễn biến trong công ty, đặc biệt những tình hình có khả năng tác động mạnh đến giá cổ phiếu, và các báo cáo tài chính định kỳ và các loại thông báo cũng là các thông tin mà cổ đông có quyền tiếp cận.
Trái phiếu là một loại chứng khoán xác nhận nghĩa vụ trả nợ bao gồm cả gốc và lãi của tổ chức phát hành đối với người sở hữu trái phiếu. Tổ chức phát hành ở đây có thể là chính phủ (như Trái phiếu kho bạc, Tín phiếu kho bạc) hay chính quyền địa phương (như
 Trái phiếu đô thị) nhằm huy động vốn cho một chương trình quốc gia hay dự án nào đó,  hoặc công ty nhằm huy động vốn mà không mở rộng đối tượng quản lý. Với tư cách là người sở hữu trái phiếu hay gọi là trái chủ sẽ được quyền ưu tiên thanh toán tài sản thanh lý khi công ty phá sản trước các cổ đông. Tuy nhiên trái chủ lại không được tham gia vào các quyết định cũng như tham gia quản lý trong các tổ chức phát hành.

Hiện nay buôn bán chứng khoán trên thị trường chứng khoán được coi là ngành kinh doanh đơn giản nhất (do ai cũng có thể đầu tư với thủ tục đơn giản) nhưng cũng phức tạp nhất (vì chứa đựng rất nhiều rủi ro). Chứng khoán không chỉ dừng lại là một giấy chứng nhận quyền sở hữu mà nó đã trở thành một hàng hóa ưa thích cho những nhà đầu tư và đầu cơ. Nhà đầu tư thường mua cổ phiếu của các công ty có triển vọng phát triển vào thời điểm có lợi, trên cơ sở phân tích kỹ thuật, rồi giữ chúng lại lâu dài để hưởng cổ tức. Còn nhà đầu cơ kinh doanh cổ phiếu bằng cách mua cổ phiếu vào khi dự đoán nó sẽ sớm lên giá sau đó "rình" cơ hội bán cổ phiếu vào lúc giá đỉnh điểm để kiếm lời.

Chứng khoán bán chạy (Blowout):

 Việc buôn bán hàng hóa: Hàng bán lẻ được bán nhanh chóng với giá rẻ.

Chứng khoán: Việc bán hết nhanh chóng một chứng khoán trong một đợt chào bán mới. Các doanh nghiệp đều muốn bán được chứng khoán trong môi trường như thế này, bởi vì họ sẽ bán được với giá cao. Các nhà đầu tư thường sẽ có một thời gian khó khăn để có đủ số lượng cổ phiếu họ muốn trong suốt thời kỳ chứng khoán bán chạy này.

Chứng khoán bảo đảm bằng tài sản (Asset-Backed Security (ABS)):

Chứng khoán bảo đảm bằng tài sản là một loại trái phiếu được phát hành trên cơ sở có sự đảm bảo bằng một tài sản hoặc một dòng tiền nào đó từ một nhóm tài sản gốc của người phát hành.

Cấu trúc của chứng khoán bảo đảm bằng tài sản gần như giống hệt chứng khoán bảo đảm bằng thế chấp. Điểm khác biệt cơ bản giữa hai loại này là ở tài sản đảm bảo, với chứng khoán đảm bảo bằng thế chấp là bất động sản, còn với chứng khoán bảo đảm bằng tài sản là các
 dòng tiềnhay nói cách khác là các khoản mà doanh nghiệp có quyền hưởng trong tương lai như tiền trả góp mua ô tô, mua nhà; tiền lãi từ tài khoản thẻ tín dụng... Cũng vì sự khác nhau ở tài sản đảm bảo này mà chứng khoán bảo đảm bằng tài sản cũng có những đặc trưng riêng.

Để phát hành chứng khoán bảo đảm bằng tài sản, công ty phát hành sẽ thành lập ra một "đơn vị đặc nhiệm", sau đó bán các
 tài sản cơ sở cho đơn vị này. Nói chung thì công ty có tài sản ấy là công ty phát hành, song về mặt pháp lý mà nói, chính "đơn vị đặc nhiệm" mới là người phát hành và chịu trách nhiệm pháp lý trước những người mua chứng khoán của nó.

Chứng khoán bảo đảm bằng tài sản không có được sự đảm bảo chắc chắn như chứng khoán bảo đảm bằng thế chấp, vì không gì bằng việc nắm chắc tài sản thế chấp trong tay. Tuy nhiên, để bảo vệ nhà đầu tư trước nguy cơ phá sản của công ty phát hành (công ty "mẹ" chứ không phải "đơn vị đặc nhiệm"), pháp luật các nước đã đưa ra 3 qui định an toàn về mặt pháp lý:

1. Việc chuyển giao tài sản từ công ty "mẹ" sang "đơn vị đặc nhiệm" là miễn truy đòi, tức là mua đứt bán đoạn.

2. Quyền lợi tuyệt đối của nhà đầu tư đối với các tài sản cơ sở

3. Tài sản của "đơn vị đặc nhiệm" không bị hợp nhất với tài sản của công ty "mẹ" trong trường hợp công ty "mẹ" phá sản.

Tài sản cơ sở để phát hành loại chứng khoán này là các nhóm tài sản nhìn chung có tính chấtthanh khoản tương đối kém, vì phải một thời gian khá dài nữa họ mới thu được chúng. Một công ty bán ô tô trả góp cho khách hàng có thể phải đợi 5, 6 năm sau mới thu được tiền, trong khi lại rất khan tiền mặt. Công ty này có thể nhóm các tài sản có tính thanh khoản thấp kiểu như vậy lại với nhau, làm tài sản cơ sở để phát hành trái phiếu, huy động vốn phục vụ hoạt động kinh doanh hiện tại. Ngoài ra, chính việc phát hành dưới dạng chứng khoán, hay "chứng khoán hoá" các khoản vay này mà công ty phát hành làm cho nhiều nhà đầu tư có khả năng tiếp cận với chúng

Chứng khoán bảo đảm bằng thế chấp (Mortgage backed security):

Chứng khoán bảo đảm bằng thế chấp là loại chứng khoán được phát hành dựa trên cơ sở một hoặc một nhóm các khoản thế chấp. Về bản chất, chứng khoán bảo đảm bằng thế chấp là một loại trái phiếu. Thay vì, trả cho nhà đầu tư một khoản trái tức cố định và tiền gốc, thì người phát hành chứng khoán lthanh toán bằng dòng tiền phát sinh từ những khoản thế chấp được dùng để đảm bảo cho số chứng khoán đó. Dạng đơn giản nhất của chứng khoán bảo đảm bằng thế chấp là kiểu "sang tay thế chấp", trong đó tất cả số tiền gốc và lãi thanh toán hàng tháng(sau khi đã trừ đi phí dịch vụ) trong một hợp đồng thế chấp sẽ được "sang tay" cho nhà đầu tư.

Vd: công ty X kinh doanh địa ốc có 1 toà văn phòng cho thuê trị giá 90 triệu USD. Để thực hiện một dự án xây chung cư khác, công ty này đang cần vay thêm 60 triệu USD. Sau khi đánh giá các phương án, họ quyết định tìm đến ngân hàng X, thế chấp toà văn phòng trên để vay 60 triệu USD trong 5 năm, thanh toán tiền gốc và tiền lãi hàng tháng  với lãi suất 1%. Tuy nhiên, tình hình tài chính ngân hàng hiện đang "mấp mé" hạn mức tín dụng cho phép nên không thể cho vay thêm, nhưng ngân hàng cũng không muốn mất khách hàng này. Ngân hàng quyết định phát hành 60.000 trái phiếu được đảm bảo bằng khoản thế chấp của công ty X, với kì hạn 5 năm, ra thị trường. Thay vì được thanh toán tiền gốc và lãi như thông thường, người nắm giữ những trái phiếu này sẽ được hưởng số tiền mà công ty X thanh toán cho ngân hàng tuỳ theo số trái phiếu mà anh ta có. Giả dụ, một quĩ đầu tư mua 6000(10%) trái phiếu, thì mỗi tháng họ sẽ được hưởng: 10% x [(60.000.000/5/12) + 1%x (số tiền còn nợ)].
Theo thời gian, khi số tiền gốc được hoàn trả dần thì cả tiền lãi và giá trị của trái phiếu này cũng giảm tương ứng. Ngược lại với các trái phiếu thông thường, khi đáo hạn mới được thanh toán tiền gốc, thì trái phiếu loại này khi đáo hạn có giá trị bằng 0.

Người nắm giữ chứng khoán loại này gần như không gặp phải rủi ro gì vì đã có khoản thế chấp làm vật đảm bảo, tuy nhiên nói như vậy cũng không có nghĩa là nó hoàn toàn không có rủi ro nào. Theo luật một số nước (ví dụ như Mỹ), người thế chấp tài sản để vay tiền hoàn toàn có quyền "thanh toán nhanh", nghĩa là họ sẽ thanh toán số tiền lớn hơn định mức. Trong ví dụ trên, thay vì trả $100.000 tiền gốc mỗi tháng, công ty X có thể trả $200.000 để giảm nhanh số tiền nợ, đồng thời giảm số tiền lãi phải trả trong thời gian tiếp theo. Đương nhiên là người nắm giữ chứng khoán này cũng sẽ nhận được số tiền thanh toán cao lên tương ứng và có thể tái đầu tư vào nơi khác. Tuy nhiên, vấn đề nằm ở chỗ, người đi vay (ở ví dụ trên là công ty X) thường chỉ áp dụng việc thanh toán nhanh khi lãi suất cho vay trên thị trường xuống thấp còn khi lãi suất thị trường cao thì không.

Tiếp tục xem xét ví dụ trên, giả sử sang năm thứ 2, lãi suất ngắn hạn trên thị trường chỉ còn có 0.5%/tháng, công ty X sẽ lập tức vay tiền với lãi suất thấp để trả cho người nắm giữ trái phiếu để tránh lãi suất cao. Người nắm giữ trái phiếu nhận được số tiền thanh toán tăng thêm trong giai đoạn lãi suất thấp thì đương nhiên khó có thể tái đầu tư để thu được lãi suất cao.

Như vậy khi mà người đi vay có quyền chọn cách thức thanh toán thì chính người cho vay là người chịu rủi ro. Rủi ro này được gọi là "rủi ro thanh toán trước",  chính vì rủi ro này mà lãi suất đối với các loại chứng khoán bảo đảm bằng thế chấp bao giờ cũng cao hơn lãi suất thị trường một chút.

Đối với loại chứng khoán này, vai trò của Ngân hàng chỉ là người trung gian, thu phí để cung cấp dịch vụ chứ hoàn toàn không phải gánh chịu rủi ro nào. Ngân hàng đóng vai trò làm người đại diện cho công ty đi vay để phát hành chứng khoán, thanh toán định kì cho người nắm giữ chứng khoán và tiến hành các thủ tục khác cho công ty đó. Phí mà ngân hàng được hưởng được khấu trừ từ chính tiền lãi mà nhà đầu tư được hưởng, ví dụ: lãi suất cho vay thế chấp đúng ra là 12.5%/năm, và mức phí ngân hàng thu là 0.5%/năm, thì lãi suất mà nhà đầu tư được hưởng sẽ còn 12%/năm.

Chứng khoán bảo đảm bằng thế chấp được phân ra một số loại như: loại "sang tay" (pass through), loại collaterized  và loại stripped. Sự khác nhau giữa các nhóm này chủ yếu ở các ràng buộc về lộ trình thanh toán hoặc dòng tiền đảm bảo cho chúng

Chứng khoán bổ sung (Subordinated Debenture Bond)

Chứng khoán bổ sung là các loại trái phiếu mà khi công ty hay ngân hàng vỡ nợ người sở hữu nó chỉ có thể thu hồi được một phần hoặc toàn bộ trái khoản của mình sau những người chủ nợ trực tiếp (general creditors). Chủ nợ trực tiếp là những người cho công ty vay một khoản tiền trực tiếp thông qua giấy nhận nợ, ví dụ như ngân hàng, các tổ chức tài chính khác; hay là những người cho ngân hàng vay trực tiếp thông qua tiền gửi ngân hàng. Trong khi đó chủ sở hữu chứng khoán bổ sung là những người cho công ty hay ngân hàng vay thông qua việc mua trái phiếu của các tổ chức này. Thực chất trái phiếu cũng là một loại giấy nợ nhưng nó có chế độ thu hồi món nợ và huởng chế độ lãi suất khác với những khoản vay trực tiếp, thường là có ngày đáo hạnnhất định, lãi suất cố định và được mua bán một cách phổ biến trên thị trường chứng khoán. Chứng khoán bổ sung là một loại trái phiếu nên cũng có đặc điểm tuơng tự.

Công ty phát hành chứng khoán bổ sung khi cần huy động thêm vốn, nhưng không muốn chia sẻ quyền quản lý (phát hành cổ phiếu sẽ chia sẻ quyền quản lý) và không muốn chịu trách nhiệm trước tiên về việc trả nợ khi công ty vỡ nợ. Chúng ta có thể thấy đây là một nhược điểm lớn của chứng khoán bổ sung, khi công ty hay ngân hàng phá sản, khả năng tài chính cuối cùng của họ dành trang trải cho trái phiếu thông thuờng trước nhất, sau đó đến cổ phiếu ưu đãi, cổ phiếu thông thuờng và sau cùng mới là chứng khoán bổ sung. Nên những người nắm giữ loại chứng khoán này có thể trắng tay hoặc cùng lắm cũng chỉ thu hồi được một phần món nợ khi công ty hay ngân hàng gặp trục trặc.

Vì sự hạn chế của chứng khoán bổ sung nên nó không phải là loại trái phiếu được phát hành phổ biến trong một công ty. Công ty chỉ phát hành khi đang trên đà kinh doanh lợi nhuận mà thiếu vốn muốn huy động vốn từ nhiều nguồn khác nhưng vẫn muốn đảm bảo quyền lợi thích đáng cho các cổ đông. Chính vì vậy nó chỉ được coi là loại chứng khoán "bổ sung". Về phía các nhà đầu tư, họ chỉ mua chứng khoán này khi thấy rõ công ty làm ăn phát đạt ổn định trong một thời gian dài, và thuờng chấp nhận bán lại với giá rất thấp khi công ty có dấu hiệu đi xuống. Tuy nhiên loại chứng khoán này lại có lãi suất khá cao, nên nó thực sự phù hợp với các nhà đầu tư mạo hiểm có khả năng tài chính vững chắc.

Chứng khoán chính phủ bảo vệ khỏi lạm phát (Treasury Inflation-Protected Securities/TIPS):

Chứng khoán chính phủ bảo vệ khỏi lạm phát là những trái phiếu  lãi suất được điều chỉnh theo tỉ lệ lạm phát được phát hành bởi kho bạc Mỹ. Những trái phiếu này được phát hành lần đầu tiên năm 1997.

Giá trị của trái phiếu được điều chỉnh theo chỉ số giá cả tiêu dùng, đó là thước đo của lạm phát. Tỉ suất trái tức là bất biến, tuy nhiên nó vẫn tạo ra những lượng lãi suất khác nhau khi nhân với giá trị gốc đã được điều chỉnh. Chính vì vậy loại trái phiếu này sẽ bảo vệ người sở hữu khỏi lạm phát. TIPS hiện tại được phát hành thành các loại có thời gian đáo hạn là 5 năm, 10 năm và 20 năm. Loại 30 năm hiện giờ không còn được phát hành.

Ngoài lợi ích bảo vệ nắm giữ khỏi lạm phát, TIPS còn được sử dụng như một nguồn thông tin hữu ích đối với các nhà lập chính sách: mức lãi suất chênh lệch giữa TIPS và những trái phiếu chính phủ thông thường là những gì mà người mua hài lòng đổi lấy để tránh khỏi rủi ro lạm phát.
Các khoản lãi từ trái phiếu này bị đánh thuế thu nhập vào thời điểm mà tiền lãi được trả (nửa năm một lần). Những điều chỉnh lạm phát được tính vào giá trị của trái phiếu cũng có thể bị đánh thuế hàng năm. Biện pháp đánh thuế này có nghĩa rằng thậm chí ngay cả khi những trái phiếu này có mục đích bảo vệ người nắm giữ khỏi lạm phát, dòng thu nhập tạo ra bởi trái phiếu lại liên quan đến lạm phát cho đến khi trái phiếu hết hạn.

Ví dụ, trong thời kì không có lạm phát, dòng thu nhập tạo ra bởi trái phiếu sẽ giống hệt trái phiếu thường, và người nắm giữ trái phiếu sẽ nhận được trái tức trừ đi thuế. Trong thời kì có lạm phát, người nắm giữ trái phiếu sẽ có khoản thu nhập tương tự (xét về sức mua), và khi đó sẽ phải nộp thêm thuế trên khoản giá trị trái phiếu đã được điều chỉnh.

Chứng khoán này của chính phủ Mỹ tương tự như Chứng khoán chống lạm phát

Chứng khoán chống lạm phát (Inflation-protected securities):

Chứng khoán chống lạm phát là một hình thức đầu tư mang lại thu nhập cố định, đảm bảo được tỉ lệ thu nhập thực tế cho người đầu tư. Tỉ lệ thu nhập thực tế là thu nhập danh nghĩa sau khi đã trừ đi tỉ lệ lạm phát, vì vậy người đầu tư được bảo vệ trước những tác động của lạm phát.
Các
 chứng khoán này thường do chính phủ phát hành, vd trái phiếu chính phủ ngừa lạm phát TIPS (Treasury inflation-protected securities), tuy nhiên các công ty tư cũng có thể phát hành loại chứng khoán này.

Các nhà đầu tư thường chỉ chú ý đến tỉ lệ thu nhập danh nghĩa trên mỗi đầu tư của mình, trong khi đó thì tỉ lệ thu nhập thực tế  mới thực sự là vấn đề. Khi xây dựng một
 danh mục đầu tư, các nhà đầu tư nên chú trọng đến việc làm tăng thu nhập từ các khoản mục đầu tư và điều chỉnh giảm rủi ro, để làm được như vậy thì cần phải tìm kiếm các lớp tài sản không  có mối liên hệ với nhau. Kể từ những năm 80 chứng khoán ngừa lạm phát đã từng bước được phát triển ở nhiều nền kinh tế lớn trên thế giới. Chưa có một loại chứng khoán nào lại dựa trên sự điều chỉnh rủi ro lớn như chứng khoán IPS.

Khi bạn mua một chứng khoán thông thường, bạn sẽ biết được số tiền danh nghĩa mà mình sẽ nhận được vào ngày chứng khoán đó đáo hạn. Tuy nhiên bạn sẽ không biết được thu nhập thực tế của mình vì bạn không biết mức lạm phát là bao nhiêu trong suốt thời hạn của chứng khoán đó. Nhưng với IPS thì ngược lại. Thay vì đảm bảo thu nhập danh nghĩa cho bạn, IPS đảm bảo mang lại cho bạn thu nhập thực tế. IPS cũng có cấu trúc tương tự các trái phiếu thông thường, sự khác biệt chủ yếu là cơ cấu trả lãi của IPS gồm 2 phần. Gồm lãi sinh ra do lạm phát trong suốt thời hạn của chứng khoán và toàn bộ lãi gốc được trả vào ngày chứng khoán đáo hạn.

Việc thanh toán IPS coupon thường dựa trên tỉ lệ lãi suất thực tế. Vì thế các IPS coupon có xu hướng sẽ có giá trị thấp hơn so với các coupon của chứng khoán thường. IPS coupon thanh toán dựa trên tiền gốc đã có tính lạm phát thay vì tính trên tiền gốc danh nghĩa như các chứng khoán khác. Do đó cả gốc và lãi đều được bảo vệ trước lạm phát. Ta có thể quan sát bảng thanh toán coupon như sau để hiểu:

Thời hạn: 1 năm 

         Tiền gốc (Principle)                      $ 1.000  
         Tỉ lệ lạm phát                              4 %
         Lãi tích luỹ do lạm phát                 $ 40
         Tiền gốc vào cuối kì hạn                $ 1.040 
         Tỉ lệ lãi suất thực tế                      3%
         Tiền lãi                                        $ 31  (=1.040x3%)
         Tổng thu nhập                              $ 7.1 (=40+31) 
                                                            7.1%

Việc mua IPS thay vì mua trái phiếu thường phụ thuộc vào dự báo của thị trường về lạm phát và khả năng dự báo đó thành hiện thực. Việc lãi suất tăng cao không có nghĩa là IPS sẽ tốt hơn trái phiếu thường. Mức độ hấp dẫn của IPS còn phụ thuộc vào mức giá của nó so với trái phiếu thường.

Ví dụ, Nếu IPS có lãi suất thực tế là 3% so với trái phiếu thường có lãi suất danh nghĩa 7%. Nếu như mức lạm phát tính đến thời điểm trái phiếu đáo hạn đạt mức trung bình là 4% thì hai trái phiếu này có mức hấp dẫn tương đương nhau. Và mức lạm phát 4% khi đó được gọi là tỉ lệ lạm phát ngang giá (break-even inflation rate).

Chứng khoán có thế chấp đảm bảo bằng tài sản thương mại (Commercial mortgage-backed securities - CMBS)

Chứng khoán thế chấp đảm bảo bằng tài sản thương mại (Commercial mortgage-backed securities - CMBS) là loại trái phiếu được sử dụng nhiều ở thị trường Mỹ. Cùng thuộc loại chứng khoán đảm bảo bằng tài sản, loại trái phiếu này được đảm bảo bằng các khoản thế chấp bất động sản thương mại chứ không phải bất động sản phục vụ nhu cầu sinh sống. CMBS là dạng sản phẩm tài chính cấu trúc, được phân cấp thành nhiều lớp.

Với tài sản đảm bảo là các tài sản thương mại, các công cụ CMBS được đánh giá là khá an toàn do các tài sản thương mại có ít rủi ro thanh toán hơn các tài sản khác.

Các quy định về đảm bảo thanh toán cho CMBS ở Mỹ thường chặt chẽ hơn tại thị trường Châu Âu. Tại Châu Âu, lãi suất áp dụng cho các trái phiếu này thường được thả nổi, căn cứ trên lãi suất cơ bản (LIBOR/EURIBOR) cộng thêm một khoản biến động

 
Chứng khoán công ty sáp nhập (Merger Securities ):

Hầu hết các vụ sáp nhập đều được thực hiện thông qua việc mua cổ phần hoặc dùng tiền để mua lại công ty đối thủ, tuy nhiên cũng có những vụ sáp nhập được thực hiện thông qua "chứng khoán sáp nhập". Chứng khoán này bao gồm các trái phiếu, chứng quyền, cổ phiếu ưu đãi, các quyền khác liên quan tới công ty.

Chứng khoán sáp nhập thực chất là một loại tài sản phi tiền tệ trả cho các cổ đông hoặc công ty đang bị thâu tóm hoặc công ty mục tiêu của vụ sáp nhập. Các chứng khoán sáp nhập có thể bị giảm xuống mức giá thấp hơn giá trị thực của chúng khi một công ty đầu tư lớn quyết định bán toàn bộ lượng chứng khoán do bị ràng buộc bởi các quy định đầu tư ngặt nghèo của chính họ. Ví dụ, một quỹ đầu tư có cổ phần trong một công ty đang tiến hành sáp nhập, quỹ này có thể nhận được các quyền chọn cổ phiếu từ công ty đó. Nếu chính sách của quỹ là không nắm giữ quyền chọn, do đó họ có thể yêu cầu bán các quyền chọn này, khiến cho mức giá của chúng giảm xuống.

Các hoạt động
 M&A dưới hình thức dùng tiền hoặc mua lại cổ  phiếu của công ty mục tiêu là phổ biến hơn cả, tuy nhiên nó lại mang lại nhiều lợi ích cho các nhà đầu tư lớn hơn là các nhà đầu tư nhỏ lẻ. Tuy nhiên sử dung hình thức chứng khoán sáp nhập thì lại khác, thường thì không ai muốn mua các chứng khoán sáp nhập vì lợi nhuận của chúng thường không cao và cũng không phải là đối tượng đầu tư của các quỹ lớn, họ cũng không quan tâm hoặc không biết nhiều về loại chứng khoán này, vì thế các nhà đầu tư nhỏ có cơ hội đầu tư kiếm lợi nhuận. 

Nói chung, nếu hoạt động M&A tiến hành dưới dạng phát hành chứng khoán sáp nhập thì thường bị phần lớn thị trường bỏ qua nhưng lại mang lại lợi nhuận cho các nhà đầu tư nhỏ. Tuy nhiên các nhà đầu tư cũng cần nghiên cứu kĩ cơ hội trước khi tiến hành
 đầu tư, dù dưới bất kì hình thức nào

 

Các tin liên quan
Cơ hội đầu tư - kinh doanh
Thông kê truy cập
Số khách đang online: 182
Số lượt khách đã truy cập: 3419223

Cq chủ quản: Sở Công Thương  Nghệ An

Thực hiện: Trung Tâm Xúc Tiến Thương Mại N An

Đc: 70 Nguyễn Thị Minh Khai, Vinh, Nghệ An

Tel: 038.3596628, Fax: 038.3596638,

Email: ntpcnghean@hn.vnn.vn

GP Số:113/GP-TTĐT Cục Phát thanh Truyền hình và TTĐT cấp ngày 09/6/2011.

Chịu trách nhiệm chính : Ô. Nguyễn Trọng Hùng, Giám đốc Trung tâm

Bản quyền:Trung tâm Xúc tiến Thương mại Nghệ An

Nghe An Trade Promotion Centre (NTPC)