22-5-2012
Kiểm điểm 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Tỉnh lần thứ XVI trong lĩnh vực công thương (10/28/2010 7:13:15 AM)

“Đảng bộ và nhân dân Nghệ An bước vào thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI (nhiệm kỳ 2005-2010) có những thuận lợi cơ bản: Sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá thu được những kết quả quan trọng: Việt Nam hội nhập kinh tế thế giới, chính thức gia nhập tổ chức Thương mại Thế giới (WTO)

 Một số định hướng lớn do Đại hội XV đề ra được khẳng định rõ hơn sau khi có Kết luận 20-KL/TW, Nghị quyết 37-NQ/TW, 39-NQ/TW của Bộ Chính trị và một số chương trình, đề án lớn được Chính phủ phê duyệt (về phát triển kinh tế - xã hội miền Tây Nghệ An, phát triển Thành phố Vinh trở thành Trung tâm kinh tế - văn hoá vùng Bắc Trung bộ). Nguồn lực được tích luỹ từ những năm trước, tạo thế và lực cho sự phát triển cao hơn.

Tuy nhiên, trong 5 năm qua tình hình thế giới và khu vực diễn biến phức tạp, ảnh hưởng của thiên tai, dịch bệnh, khủng hoảng năng lượng, ô nhiễm môi trường, biến đổi khí hậu đã trở thành những vấn đề nghiêm trọng. Từ cuối năm 2007, kinh tế và đời sống gặp nhiều khó khăn do lạm phát và suy giảm kinh tế; thiên tai, dịch bệnh liên tiếp xảy ra; các thế lực thù địch tiếp tục chống phá, đẩy mạnh hoạt động “diễn biến hoà bình”. Trong khi yêu cầu đòi hỏi lại chưa tương xứng; địa bàn rộng lớn, chủ yếu là miền núi, kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn, đã ảnh hưởng lớn đến quá trình phát triển của tỉnh. Trước tình hình đó, Đảng bộ và các tầng lớp nhân dân tỉnh nhà đã nỗ lực phấn đấu vươn lên đạt được những kết quả quan trọng.

* Những kết quả đạt được:

Trong hai năm đầu (2006-2007) kinh tế tăng trưởng khá cao (trên 10,5%). Từ cuối năm 2007 chịu ảnh hưởng lớn của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu; thiên tai, dịch bệnh diễn biến rất phức tạp và gây hậu quả nặng nề, song tốc độ tăng trưởng GDP bình quân trong 5 năm 2005-2010 vẫn đạt 9,75%. GDP bình quân đạt 14,16 triệu đồng/người/năm, tăng 2,5 lần so với đầu nhiệm kỳ. Cơ cấu kinh tế có bước chuyển dịch theo hướng tích cực. Tỷ trọng nông nghiệp giảm từ 34,41% năm 2005 xuống còn 28,47%; tỷ trọng ngành công nghiệp - xây dựng tăng từ 29,30% lên 33,44%; tỷ trọng ngành dịch vụ tăng từ 36,29% lên 38,09% năm 2010”.

“Công nghiệp và xây dựng tiếp tục tăng trưởng: Tập trung quy hoạch, bổ sung quy hoạch phát triển công nghiệp giai đoạn 2006-2010 có tính đến 2015; đã xác định và tập trung đầu tư phát triển các ngành công nghiệp có lợi thế như công nghiệp chế biến nông - lâm - thuỷ sản và đồ uống, công nghiệp chế biến khoáng sản và sản xuất vật liệu xây dựng, công nghiệp điện, cơ khí, dệt may...”. “... Một số nhà máy đã đi vào hoạt động, nhiều sản phẩm tăng nhanh so với đầu nhiệm kỳ (bia, xi măng, gạch, thiếc, bao bì...)”, trong đó: Bia từ 30,8 triệu lít năm 2005 lên 48,2 triệu lít năm 2009, dự kiến đến năm 2010 có 100 triệu lít/CS 250 triệu lít; xi măng từ 1,33 triệu tấn lên 1,68 triệu tấn năm 2009 (tăng 288%), ước năm 2010 đạt 1.700 triệu tấn; gạch từ 352 triệu viên lên 628,2 triệu viên năm 2009/MT 500 triệu viên (bằng 125% mục tiêu); may mặc tăng từ 4,5 triệu sản phẩm lên 6,8 triệu sản phẩm năm 2009-MT 5 triệu sản phẩm; thiếc tăng từ 474 tấn lên 2.400 tấn/MT 1.500 tấn; bao bì tăng từ 23,99 triệu bao lên 70 triệu bao năm 2009/MT 50 triệu bao... Giá trị sản xuất công nghiệp tăng khá, bình quân 5 năm đạt 14,97%, năm 2010 ước đạt 8.540 tỷ đồng (theo giá 1994).

“Việc tổ chức, sắp xếp lại các doanh nghiệp nhà nước được thực hiện tích cực, công tác khuyến công được đẩy mạnh, nhờ vậy các doanh nghiệp đã hoạt động ổn định và hiệu quả hơn; các loại hình kinh tế tư nhân phát triển khá nhanh, đóng vai trò ngày càng quan trọng vào tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động, tăng thu ngân sách của tỉnh”.

“Dịch vụ phát triển nhanh, đa dạng, rộng khắp trên các lĩnh vực, vùng miền, một số ngành có tốc độ phát triển cao hơn mục tiêu nghị quyết. Ngành thương mại tiếp tục được tổ chức lại đáp ứng nhu cầu phát triển sản xuất và đời sống của nhân dân.” “... Giá trị kim ngạch xuất khẩu trên địa bàn tăng bình quân hàng năm 22,90%/Mục tiêu 20-25%”. Giá trị sản xuất thương mại năm 2010 ước đạt 5.500 tỷ đồng (theo giá hiện hành), mức tăng bình quân 5 năm đạt 21,89%. Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng năm 2010 ước đạt 22.900 tỷ đồng, mức tăng bình quân 5 năm là 20,40%.

“Hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội không ngừng được tăng cường”... “Về điện: tập trung đầu tư xây dựng một số công trình lớn, như trạm 110KV Thanh Chương, Diễn Châu, cải tạo lưới điện Thành phố Vinh, khu công nghiệp Nam Cấm, xây dựng thêm 78 công trình, trong đó đưa điện về xã 16 công trình, 642 km đường dây hạ thế và trạm biến áp... Đến nay có 20/20 huyện, thành, thị và 460 xã có điện lưới quốc gia, số xã có điện bằng các dạng năng lượng đạt 100% mục tiêu nghị quyết 100%; 38% số hộ được bán điện tại gia/mục tiêu nghị quyết 50%”.

* Những khuyết điểm, yếu kém

“Tốc độ tăng trưởng bình quân cả nhiệm kỳ chỉ đạt 9,75%/MT12-13%. Tỷ trọng công nghiệp - xây dựng tăng chậm. Hiệu quả sử dụng các nguồn vốn đầu tư còn thấp”. “... Thu hút đầu tư chưa đáp ứng được yêu cầu, số vốn đầu tư nước ngoài còn hạn chế; chưa có nhiều dự án lớn mang tính đột phá trong phát triển kinh tế của tỉnh. Một số dự án trọng điểm kéo dài, chậm phát huy hiệu quả...” Trong đó, Đề án Phát triển xi măng không đạt mục tiêu đến năm 2010 công suất là 5,9 triệu tấn/năm, do đến nay tổng công suất các nhà máy đã hoạt động và đang xây dựng là 7,68 triệu tấn/năm, song công suất các nhà máy đã hoạt động cho ra sản phẩm thực tế chỉ đạt 1,65 triệu tấn/năm; Đề án Phát triển thuỷ điện không đạt mục tiêu đề ra là 900MW vào năm 2010, tổng công suất lắp máy của các dự án thuỷ điện là 887,45MW, song công suất phát điện mới chỉ đạt 342,5MW; Đề án Phát triển đồ uống (bia, rượu, cồn, nước giải khát) không đạt mục tiêu 150 triệu lít bia vào năm 2010, do đến nay công suất mới chỉ đạt 100 triệu lít bia.

Một số mũi trọng điểm, đột phá trong phát triển kinh tế đạt thấp so với mục tiêu Nghị quyết, như: Xi măng, ..., giá trị kim ngạch xuất khẩu hàng hoá, v.v... Quy mô xuất khẩu nhỏ bé, hiệu quả chưa cao; nguồn hàng xuất khẩu còn nghèo nàn, manh mún; cơ cấu hàng hoá xuất khẩu chủ yếu vẫn là hàng nông lâm sản thô, chưa có mặt hàng có hàm lượng công nghệ và chế biến sâu, có giá trị cao; sản xuất hàng hoá xuất khẩu trên địa bàn tỉnh chưa phát triển, một số chương trình, đề án phát triển phục vụ xuất khẩu triển khai không đảm bảo tiến độ, chưa hiệu quả hoặc không có tính khả thi như: Đề án phát triển vùng nguyên liệu cao su, cam, mía đường, cà phê; Chương trình đánh bắt xa bờ; phát triển sản xuất, chế biến thuỷ hải sản xuất khẩu; dự án giày da xuất khẩu; chế biến súc sản xuất khẩu; dự án nhà máy gỗ xuất khẩu; nhà máy dầu ăn; dự án phát triển và mở rộng ngành dệt  may; chương trình sản xuất và chế biến nước dứa hộp xuất khẩu...

* Nguyên nhân:

- Về khách quan:

+ Xuất phát điểm thấp; địa bàn rộng lớn, nhiều vùng, miền, trong đó chủ yếu là miền núi, đời sống còn nhiều khó khăn.

+ Diễn biến bất thường của nền kinh tế thế giới và trong nước (lạm phát, suy giảm kinh tế...)

- Về chủ quan:

+ “... Nhận thức và tư duy về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của cán bộ, đảng viên và nhân dân còn hạn chế...”

+ “...một số chỉ tiêu của Đại hội xác định quá cao, trong khi nguồn lực của tỉnh còn hạn chế”

* Đánh giá tổng quát:

Giai đoạn 2005-2010 tuy gặp nhiều khó khăn, nhưng kinh tế - xã hội Nghệ An vẫn có bước phát triển khá. Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch đúng hướng. Có 21/28 chỉ tiêu Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI đề ra đã đạt và vượt, tạo tiền đề quan trọng cho bước phát triển thời kỳ tới. Tình hình chính trị xã hội ổn định, quốc phòng an ninh, trật tự an toàn xã hội được giữ vững. Các vấn đề xã hội được chăm lo và có nhiều chuyển biến tích cực; đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện rõ rệt. Công tác xây dựng Đảng được tăng cường, hệ thống chính trị từ tỉnh đến cơ sở ngày càng được củng cố và phát triển.

Tuy vậy, Nghệ An vẫn đang là một tỉnh nghèo; mức tăng trưởng kinh tế chưa đạt mục tiêu Nghị quyết và chưa bền vững; cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm. Lao động thiếu việc làm lớn; tệ nạn xã hội còn diễn biến phức tạp; đời sống của một bộ phận nhân dân, nhất là ở vùng sâu, vùng xa vẫn còn nhiều khó khăn. An ninh vùng đặc thù còn tiềm ẩn những yếu tố gây mất ổn định. Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức đảng và năng lực chỉ đạo điều hành của các cấp chính quyền so với yêu cầu còn bất cập.”

Mỹ Hà

Các tin liên quan
Cơ hội đầu tư - kinh doanh
Thông kê truy cập
Số khách đang online: 409
Số lượt khách đã truy cập: 5194149

Cq chủ quản: Sở Công Thương Nghệ An

Thực hiện: Trung Tâm Xúc Tiến Thương Mại N An

Đc: 70 Nguyễn Thị Minh Khai, Vinh, Nghệ An

Tel: 038.3596628, Fax: 038.3596638,

Email: ntpcnghean@hn.vnn.vn

GP Số:113/GP-TTĐT Cục Phát thanh Truyền hình và TTĐT cấp ngày 09/6/2011.

Chịu trách nhiệm chính : Ô. Nguyễn Trọng Hùng, Giám đốc Trung tâm

Bản quyền:Trung tâm Xúc tiến Thương mại Nghệ An

Nghe An Trade Promotion Centre (NTPC)