22-5-2012
Phần 1 : Thực trạng xuất khẩu (10/6/2011 10:46:20 AM)

Thực trạng xuất khẩu trên địa bàn Nghệ An giai đoạn 2006-2010.

 

 

 

I. ĐẶT VẤN ĐỀ XÂY DỰNG ĐỀ ÁN

 Để phấn đấu đạt chỉ tiêu xuất khẩu đến năm 2010 do đại hội Tỉnh đảng bộ lần thứ XVI đề ra, Sở Thương mại (nay là Sở Công Thương) được giao nhiệm vụ xây dựng Dự thảo đề án "định hướng phát triển xuất khẩu trên địa bàn tỉnh Nghệ An giai đoạn 2006 - 2010" và đã được UBND tỉnh phê duyệt tại Quyết định số 68/2006/Qđ-UBND ngày 14/7/2006.

Được sự quan tâm chỉ đạo của Tỉnh uỷ, UBND tỉnh, các ban, ngành cấp tỉnh và các địa phương cùng với sự nỗ lực của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh, trong thời gian qua, đề án nêu trên đã được triển khai đi vào cuộc sống, đạt và vượt các chỉ tiêu đề ra.

Bước vào giai đoạn 2011 - 2015, theo tinh thần của Nghị quyết đại hội đại biểu đảng bộ Tỉnh lần thứ XVII số 01 NQ/đH ngày 17/10/2010, phấn đấu đến năm 2015 đạt chỉ tiêu kim ngạch xuất khẩu từ 500 - 550 triệu USD.

Đây là một nhiệm vụ quan trọng, đòi hỏi sự quan tâm, chỉ đạo quyết liệt của các cấp, ngành cũng như sự nỗ lực của các doanh nghiệp, đặc biệt trong điều kiện sản xuất hàng hoá, năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp và hạ tầng phục vụ xuất khẩu trên địa bàn tỉnh còn có những mặt hạn chế chưa đáp ứng yêu cầu. Do vậy, rất cần thiết xây dựng đề án "định hướng phát triển xuất khẩu Nghệ An giai đoạn 2011 - 2015" với các mục tiêu, chương trình và lộ trình cụ thể, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo công ăn việc làm cho người lao động, đưa Nghệ An thoát khỏi tình trạng nghèo và kém phát triển vào năm 2015.

II. CĂN CỨ XÂY DỰNG ĐỀ ÁN

1. Nghị quyết số 01-NQ/TU ngày 17/10/2010 của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ về
Chương trình hành động triển khai thực hiện Nghị quyết đại hội đảng bộ Tỉnh lần thứ XVII;

2. Quyết định số 101/2010/Qđ-UBND ngày 14/12/2010 của UBND Tỉnh về
phê duyệt Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Nghệ An giai đoạn 2011 - 2015;

3. Quyết định số 957/Qđ-UBND ngày 29/3/2011 của UBND tỉnh về việc ban hành Kế hoạch triển khai chương trình hành động thực hiện Nghị quyết đại hội đảng bộ tỉnh lần thứ XVII;

4. Quy hoạch tổng thể phát triển thương mại Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020 và định hướng đến 2030 ban hành kèm theo Quyết định số 3098/Qđ-BCT ngày 24 tháng 6 năm 2011 của Bộ trưởng Bộ Công Thương;

III. KẾT QUẢ XUẤT KHẨU GIAI đOẠN 2006 - 2010

1. Kim ngạch xuất khẩu

Giai đoạn 2006 - 2010, tổng kim ngạch xuất khẩu trên địa bàn tỉnh Nghệ An đã có bước tăng trưởng đáng kể: Tăng từ 168,8 triệu USD năm 2006 lên 386,3 triệu USD năm 2010, hoàn thành vượt mức 10,3% so với chỉ tiêu kế hoạch kim ngạch xuất khẩu giai đoạn 2006 - 2010 là 350 triệu USD vào năm 2010.

 

2. Cơ cấu hàng hoá, dịch vụ xuất khẩu

a) Cơ cấu hàng hoá xuất khẩu

Cơ cấu hàng hoá xuất khẩu trên địa bàn Nghệ An đã có sự chuyển dịch qua các năm, trong đó:

- Nhóm hàng nông lâm sản: Chiếm tỷ trọng khá lớn trong cơ cấu hàng hoá xuất khẩu và có xu hướng giảm dần từ 53,4% năm 2006 xuống 47,6 % năm 2010.
- Nhóm hàng công nghiệp, TTCN, khoáng sản: tăng dần từ 46,6% năm 2006
lên 52,4% năm 2010.

Kết quả xuất khẩu một số mặt hàng như sau:

(1) Dăm gỗ: Là mặt hàng xuất khẩu hàng đầu của các doanh nghiệp Nghệ An có mức tăng trưởng vượt bậc trong giai đoạn 2006 - 2010: Tăng từ 10,4 triệu USD năm  2006 lên  39,8 triệu USD vào năm  2010, đạt mức tăng trưởng bình quân 40%/năm; thị trường xuất khẩu chủ yếu là Trung Quốc, đài Loan.

(2) Sản phẩm sắn và tinh bột sắn: Là nhóm sản phẩm xuất khẩu đứng hàng thứ hai của các doanh nghiệp Nghệ An có mức tăng trưởng cao trong giai đoạn 2006 - 2010: Từ 18,8 triệu USD năm 2006 lên 34,1 triệu USD vào năm 2010 với số lượng xuất khẩu 61.402 tấn, đạt mức tăng trưởng bình quân 16%/năm. Thị trường xuất khẩu chủ yếu, gồm: Trung Quốc, Malaysia, Philippine và Ấn độ. Một điều đáng lưu ý là trên 80% kim ngạch mặt hàng này được khai thác từ ngoại tỉnh.

(3) Sản phẩm đá các loại: Bao gồm đá cục sơ chế, đá xẻ và một ít bột đá siêu mịn. đây là nhóm hàng xuất khẩu đứng vị trí thứ 3 của các doanh nghiệp trong năm 2010, có mức tăng trưởng cao trong giai đoạn 2006 - 2010: Tăng từ 4,5 triệu USD năm 2006 lên 13,7 triệu USD năm 2010, đạt mức tăng trưởng bình quân 32% năm, xuất sang thị trường 18 nước, bao gồm: Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc, đài Loan, Hoa Kỳ, Singapore, Indonesia, Malaysia, Ấn độ, Ả Rập, Pakistan, Isarel, Italy, Mexico, Turmenistan, Panama.

(4) Nhóm hàng nhựa thông và tùng hương các loại: đây là một trong những
nhóm hàng có mức tăng trưởng cao trong giai đoạn 2006 - 2010: đạt trên 37% năm,
tăng từ 3 triệu USD năm 2006 lên 10,8 triệu USD năm 2010, với thị trường chủ yếu
là Ấn độ, Trung Quốc, Hàn Quốc và Thái Lan. Nguồn hàng xuất khẩu được các doanh nghiệp khai thác cả trong và ngoài tỉnh.

(5) Nước hoa quả các loại: Là nhóm hàng có mức tăng trưởng vượt bậc, đạt mức tăng trưởng bình quân ~ 90% năm trong giai đoạn 2006 - 2010, chủ yếu do Công ty CP Thực phẩm Nghệ An xuất khẩu; năm 2010 nhóm hàng này đạt kim ngạch trên 10,7 triệu USD, xuất sang thị trường Hà Lan, Trung Quốc, đức, Thụy Sĩ và Bồ đào Nha.

(6) Gạo tẻ: Là mặt hàng xuất khẩu truyền thống của các doanh nghiệp Nghệ An; năm 2010 có 6 doanh nghiệp tham gia xuất khẩu với số lượng 15.281 tấn, đạt kim ngạch trên 7,5 triệu USD xuất sang thị trường các nước, gồm: Trung Quốc, Philippine, Singapore, Lào, Island, Armenia, Belarus, Fiji, Sudan và Hungari. 100% kim ngạch mặt hàng này đều được khai thác từ hàng ngoại tỉnh.

(7) Cao su: đây cũng là một trong những mặt hàng xuất khẩu truyền thống của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh. Trong năm 2010 là mặt hàng xuất khẩu đứng vị trí thứ 7, do 4 doanh nghiệp xuất khẩu, với số lượng 2.422 tấn, đạt kim ngạch trên 7,2 triệu USD xuất sang thị trường Trung Quốc. Một điều lưu ý là 100% kim ngạch mặt hàng này đều được các doanh nghiệp thu gom từ ngoại tỉnh.

(8) Vật liệu xây dựng, bao gồm sắt thép, xi măng, tấm lợp…: Trong năm 2010, kim ngạch nhóm hàng này đạt trên 7,2 triệu USD, chủ yếu xuất khẩu sang thị trường Lào; nguồn hàng xuất khẩu khai thác từ trong và ngoại tỉnh.

(9) Sản phẩm chè: đây cũng là một trong những mặt hàng xuất khẩu quan trọng của Nghệ An, góp phần chuyển đổi cơ cấu sản xuất, giải quyết công ăn việc làm cho người lao động tại các huyện miền núi và trung du Nghệ An. Trong năm 2010 có 4 doanh nghiệp tham gia xuất khẩu với số lượng 5.379 tấn đạt kim ngạch trên 6,1 triệu USD, chủ yếu xuất sang thị trường các nước: Lào, Ba Lan, Pakistan, Afganistan, Nga và Phần Lan.

(10) Gỗ và SP gỗ các loại: Là nhóm mặt hàng xuất khẩu có kim ngạch tương đối ổn định trong giai đoạn 2006 - 2010. Trong năm 2010 có 19 doanh nghiệp tham gia xuất khẩu trực tiếp, đạt kim ngạch trên 5,5 triệu USD, bao gồm các loại sản phẩm: ván sàn, gỗ xẻ sơ chế, gỗ tròn tái xuất, xuất khẩu sang thị trường: Nhật Bản, Trung Quốc, đài Loan, Hồng Kông … đa phần lượng hàng này đều có nguồn gốc nhập khẩu từ thị trường Lào và các nước khác, chủ yếu hàng mới qua sơ chế, giá trị thấp.

(11) Xăng dầu & phốt pho lỏng: Là mặt hàng xuất khẩu mới, đạt kim ngạch trên 5 triệu USD, chủ yếu tái xuất khẩu sang thị trường Lào, Ấn độ…

(12) Lạc nhân: Là một trong những sản phẩm xuất khẩu truyền thống của các doanh nghiệp trên địa bàn Nghệ An, năm 2003 đã đạt kim ngạch trên 16,5 triệu USD xuất khẩu chính ngạch; nhưng trong giai đoạn 2006 - 2010, xuất khẩu chính ngạch bị giảm sút đáng kể, do thương nhân Trung Quốc vào tận thu thông qua đội ngũ tư thương vùng biên giới Việt - Trung. điển hình như năm 2010 có 10 doanh nghiệp tham gia xuất khẩu trực tiếp với số lượng 3.151 tấn, đạt kim ngạch trên 3,8 triệu USD xuất sang thị trường Thái Lan, Indonesia và Trung Quốc. Ngoài ra, gần 8.000 tấn lạc nhân các loại của Nghệ An đã được bán cho các tư thương vùng biên giới Việt Trung xuất sang Trung Quốc và ~ 6.019 tấn lạc nhân cung ứng cho các doanh nghiệp ngoại tỉnh xuất khẩu sang Thái Lan và Indonesia, đạt giá trị xuất khẩu trên 15 triệu USD. Toàn bộ trị giá hàng xuất khẩu này không được tính trong tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh.

(13) Quặng các loại & hàng phế liệu: Bao gồm: Ilmenite, Zircon, quặng sắt,
nhôm vụn… được các doanh nghiệp khai thác cả từ nội tỉnh và ngoại tỉnh xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc, Nhật Bản, Indonesia, Malaysia... đạt kim ngạch ~ 3,6
triệu USD trong năm 2010. Một điều lưu ý là, kim ngạch nhóm hàng này ngày càng giảm, do nguồn hàng khan hiếm dần và chính sách hạn chế xuất khẩu của Nhà nước.

(14) Hàng dệt may: Là một trong những mặt hàng xuất khẩu truyền thống của các doanh nghiệp dệt may trên địa bàn tỉnh, góp phần giải quyết việc làm cho nhiều lao động. Trong năm 2010, nhóm hàng này đạt kim ngạch 3,1 triệu USD, gồm quần áo may mặc sẵn, sợi dệt các loại, chủ yếu xuất khẩu sang thị trường Hàn Quốc, Philippine, Nhật Bản, Hoa Kỳ, Honduras, Hà lan, Ba lan, đức,...

 

(15) Hàng thủ công mỹ nghệ: đạt kim ngạch 1,6 triệu USD, chủ yếu xuất khẩu sang thị trường Aruba, Canada, Trung Quốc, Pháp, Nhật Bản, Indonesia, Israel, ấn độ, Hàn Quốc, Lào, Malaysia, Ba Lan, đài Loan, Ả rập Xê út, Hoa Kỳ, Vương quốc Anh... đáng lưu ý, xuất khẩu hàng hoá vào các thị trường này phần lớn đều qua bạn hàng trung gian nước ngoài.

b) Cơ cấu dịch vụ xuất khẩu

Trong giai đoạn 2006 - 2010 xuất khẩu dịch vụ trên địa bàn tỉnh (bao gồm: vận tải biển; dịch vụ du lịch và xuất khẩu lao động) tiếp tục được chú trọng đầu tư phát triển, trong đó năm 2010 xuất khẩu lao động chiếm ~ 94% (205 triệu USD); dịch vụ du lịch và vận tải biển chiếm ~6% (13,2 triệu USD).

3. Thị trường xuất khẩu

a) Thị trường hàng hoá xuất khẩu đến nay, các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh đã xuất khẩu hàng hoá sang thị trường 78 nước và khu vực trên thế giới.

Một số thị trường chủ yếu:

- Trung Quốc: Là thị trường xuất khẩu truyền thống và hàng đầu của các doanh nghiệp Nghệ An, năm 2010 đạt kim ngạch trên 87 triệu USD, chiếm 51,8% kim ngạch hàng hoá toàn tỉnh. Các sản phẩm nhập khẩu chủ yếu là: tinh bột sắn, cao su, sản phẩm gỗ, đá trắng, quặng các loại, dăm gỗ, gạo tẻ, nhựa thông, lạc nhân…;

- Ấn độ: Là thị trường đứng vị trí thứ 2 của các doanh nghiệp Nghệ An trong năm 2010 với kim ngạch 11,8 triệu USD, chiếm 7% trong tổng kim ngạch XK, gồm nhựa thông, tùng hương, nến đất, đá trắng, phốt pho lỏng…

- Hàn Quốc: Năm 2010 nhập khẩu từ các doanh nghiệp Nghệ An trên 10,6 triệu USD, chiếm tỷ trọng ~ 6,4%, gồm: Sợi dệt, nhựa thông & tùng hương, đá trắng các loại, nhôm vụn…

- Hà Lan: Năm 2010 vươn lên vị trí thứ 4 đạt kim ngạch 10,1 triệu USD, gồm nước hoa quả, hàng may mặc, bật lửa gas…

- Lào: Là thị trường quen thuộc của các doanh nghiệp Nghệ An với phương thức kinh doanh đơn giản, năm 2010 kim ngạch đạt trên 8,4 triệu USD, chiếm 5%, chủ yếu nhập các sản phẩm: chè, sắt thép xây dựng, hàng công nghệ phẩm, gạo tẻ, thuỷ sản, vải PP, hạt nhựa, cồn các loại…

- Thị trường một số nước Asean khác, như Philippine, Indonesia, Thái Lan,
Malaysia, Singapore: Kim ngạch đạt trên 12,5 triệu USD, chủ yếu nhập khẩu các loại
sản phẩm: Lạc nhân, nhựa thông, cơm dừa, bao Polime, đậu xanh, gạo tẻ, tinh bột sắn…

b) Thị trường xuất khẩu lao động

Thị trường xuất khẩu lao động chủ yếu là các nước đài loan, Hàn quốc, Nhật bản, Lào, Malaysia.

4. Chủ thể tham gia hoạt động xuất nhập khẩu

Trong giai đoạn 2006 - 2010, số lượng doanh nghiệp tham gia hoạt động xuất nhập khẩu tăng nhanh; riêng 2 năm 2009 - 2010 trên địa bàn tỉnh đã có 257 doanh nghiệp thực có tham gia hoạt động xuất khẩu và nhập khẩu.

Phân tích theo loại hình doanh nghiệp tham gia xuất khẩu, trong năm 2010:
- Doanh nghiệp địa phương chiếm 82,7% với kim ngạch xuất khẩu đạt 138,9  triệu USD;

- Doanh nghiệp trung ương và quốc phòng chiếm 10,6% với kim ngạch đạt 17,9 triệu USD;

- Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) chiếm 6,7% với kim ngạch đạt 11,3 triệu USD.

IV. ĐÁNH GIÁ TỔNG QUÁT THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU TRÊN đỊA BÀN NGHỆ AN GIAI đOẠN 2006 - 2010

1. Kết quả đạt được

Trong những năm qua, phát triển xuất khẩu đã có những đóng góp đáng kể vào chuyển đổi cơ cấu kinh tế trên địa bàn tỉnh. Xuất khẩu đã trở thành một trong những động lực chủ yếu gia tăng phát triển sản xuất, góp phần ổn định kinh tế, xã hội như giải quyết việc làm, tăng thu nhập, xóa đói, giảm nghèo.

- Về quy mô, năm 2010 kim ngạch xuất khẩu đạt 386,3 triệu USD/chỉ tiêu kế hoạch 350 triệu USD, hoàn thành vượt mức chỉ tiêu kế hoạch 10,3%.
- Về tốc độ tăng trưởng, đạt mức tăng trưởng bình quân 22,9%/năm, cao hơn
chỉ tiêu kế hoạch đề ra là 18,5 - 21,7%/năm;


 

 

 

- Cơ cấu hàng hoá xuất khẩu thay đổi theo chiều hướng tích cực: tỷ lệ hàng công nghiệp, khoáng sản và hàng qua chế biến tăng cao, chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá của cả tỉnh.

- Thị trường xuất khẩu hàng hoá tiếp tục được mở rộng: đến năm 2010 các doanh nghiệp Nghệ An đã xuất khẩu hàng hoá sang thị trường 78 nước và khu vực.
                                
- Xuất khẩu dịch vụ có bước tăng trưởng: Năm 2010 đạt trên 218,2 triệu
USD (trong đó xuất khẩu lao động ~ 205 triệu USD), tăng gấp 3,2 lần so với năm 2006 (67,6 triệu USD).

- Chủ thể tham gia xuất khẩu không ngừng tăng cả về lượng lẫn về chất: Trong hai năm 2009 - 2010 đã có 257 doanh nghiệp thực có tham gia hoạt động xuất/và hoặc nhập khẩu.

2. Một số tồn tại

- Quy mô hàng hoá xuất khẩu vẫn còn nhỏ bé, tăng trưởng không vững chắc, chưa khai thác hết tiềm năng và thế mạnh của tỉnh; kim ngạch xuất khẩu bình quân theo đầu người vẫn đạt thấp so với mức bình quân chung của cả nước.

- Cơ cấu hàng hóa xuất khẩu còn chưa hợp lý: đa phần là hàng nông lâm hải sản sơ chế, ít có hàng công nghiệp chế biến có giá trị lớn; Chủng loại hàng hóa đơn điệu, ít xuất hiện mặt hàng mới với kim ngạch cao.

- Hàng hóa xuất khẩu được sản xuất tại Nghệ An chiếm tỷ trọng còn khá “khiêm tốn”, chỉ đạt xấp xỉ ngưỡng 50% trong tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh. Kim ngạch một số sản phẩm xuất khẩu truyền thống trước đây của các doanh nghiệp Nghệ An như lạc nhân, thuỷ hải sản, súc sản chế biến… ngày càng giảm.

Nhiều mặt hàng xuất khẩu của các doanh nghiệp vẫn còn phụ thuộc vào nguồn hàng ngoại tỉnh (như tinh bột sắn, cao su, gạo tẻ, hạt tiêu, cà phê, nguyên liệu chanh leo, sản phẩm gỗ…) và thị trường ngoài nước; trong khi một lượng hàng xuất khẩu không nhỏ sản xuất tại Nghệ An lại không được tham gia tính vào kim ngạch xuất khẩu của tỉnh, do các doanh nghiệp, tư thương ngoại tỉnh vào cạnh tranh với các doanh nghiệp trong tỉnh thu gom, khai thác xuất khẩu (như lạc nhân, thiếc thỏi, đá trắng, một số khoáng sản, thuỷ hải sản…).

- Mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Nghệ An chưa có (hoặc có nhưng với thị phần không đáng kể) trong danh mục 10 mặt hàng xuất khẩu hàng đầu của Việt Nam, như: dầu thô, dệt may, giày dép, thuỷ hải sản, sản phẩm gỗ, linh kiện điện tử, gạo tẻ, cao su, cà phê, hàng thủ công mỹ nghệ.

- Kim ngạch xuất khẩu của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI)
chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá của tỉnh: Năm 2010
chỉ đạt 11,29 triệu USD, chiếm 6,7% trong tổng kim ngạch xuất khẩu của tỉnh;
trong khi đó trên địa bàn cả nước, các doanh nghiệp FDI chiếm trên 54% tổng kim


 

 

 

ngạch xuất khẩu của cả nước, đạt kim ngạch ~ 38,8/71,6 tỷ USD, bao gồm cả kim ngạch xuất khẩu dầu thô.

- Thị trường xuất khẩu hàng hoá Nghệ An mặc dù trong thời gian qua có bước tiến đáng kể, song vẫn còn hạn hẹp, bạn hàng ít, quan hệ bạn hàng thiếu ổn định, thậm chí còn qua trung gian.

3. Nguyên nhân

a) Nguyên nhân thành tựu

- Nguyên nhân chủ quan

+ Các doanh nghiệp xuất nhập khẩu trên địa bàn tỉnh ngày càng có kinh nghiệm hơn trong buôn bán với bạn hàng nước ngoài.

+ Sự quan tâm của lãnh đạo tỉnh, ngành về công tác xuất khẩu và đặc biệt là
công tác này được coi là một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong chiến lược
phát triển kinh tế xã hội của tỉnh. Nhiều cơ chế chính sách về ưu tiên đầu tư phát
triển sản xuất hàng hoá xuất khẩu; tạo vùng nguyên liệu; xây dựng cơ sở hạ tầng;
công tác thuỷ lợi phí; khuyến khích ứng dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến; chính
sách khuyến khích tiêu thụ hàng nông sản đã được tỉnh ban hành, đi vào cuộc sống.

+ Nghệ An cũng đã huy động và thu hút được một số dự án đầu tư phục vụ sản xuất hàng xuất khẩu, kể cả vốn đầu tư nước ngoài. Công tác xúc tiến thương mại, đầu tư và du lịch, khuyến công.... bước đầu đã mang lại hiệu quả thiết thực cho doanh nghiệp.

+ Xuất khẩu lao động đã được các cấp ngành địa phương chú trọng phát triển, đáp ứng nguyện vọng của người lao động trên địa bàn, nhất là lao động nông thôn; nhờ đó đã giải quyết tốt việc làm và thu nhập cho người lao động, tạo mức tăng trưởng khá trong doanh thu ngoại tệ về xuất khẩu lao động.

- Nguyên nhân khách quan

+ Việc Việt Nam gia nhập WTO đã tạo thị trường rộng mở cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu trên địa bàn.

+ Sự phục hồi của nền kinh tế thế giới trong 2 năm qua (2009 - 2010) làm tăng nhu cầu nhập khẩu hàng hoá của các khu vực và quốc gia trên thế giới, đã hút một lượng lớn hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam, trong đó có Nghệ An.

b) Nguyên nhân tồn tại

- Nguyên nhân chủ quan

+ Nghệ An chưa có vùng trọng điểm sản xuất hàng hóa xuất khẩu với khối lượng lớn như tại một số vùng miền khác (như: lúa gạo, thuỷ hải sản vùng đồng bằng sông Cửu Long; cà phê Miền Trung Tây Nguyên; cao su đồng Nai,…)

+ Nhận thức về hội nhập kinh tế quốc tế; về vai trò của công tác xuất khẩu đối với nền kinh tế của một số sở, ngành, huyện thị, doanh nghiệp chưa đầy đủ, dẫn đến công tác chỉ đạo thực hiện các chương trình phát triển sản xuất các mặt hàng xuất khẩu chưa được các ngành, địa phương quan tâm chỉ đạo quyết liệt.

+ Năng lực cạnh tranh trên địa bàn tỉnh vẫn còn kém trên cả 3 cấp độ: tiềm lực kinh tế, doanh nghiệp và mặt hàng xuất khẩu, thể hiện:

(i) Nền kinh tế tỉnh nhà còn ở điểm xuất phát thấp. Nghệ An chưa phải là vùng kinh tế trọng điểm được Trung ương đặc biệt quan tâm đầu tư, lại xa các cực phát triển kinh tế lớn của cả nước.

(ii) Sức cạnh tranh của sản phẩm Nghệ An còn yếu cả trên thị trường trong
nước và nước ngoài: số lượng manh mún; chất lượng chưa đáp ứng yêu cầu tiêu chuẩn
quốc tế, thị phần nhỏ; giá thành cao; mẫu mã ít đổi mới, kiểu dáng lạc hậu; công tác vệ
sinh và an toàn thực phẩm một số sản phẩm chưa đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế…

(iii) Năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu trên địa bàn tỉnh
chưa cao, đa phần là doanh nghiệp vừa và nhỏ: nguồn tài chính hạn hẹp, năng lực sản
xuất và kinh doanh nhỏ bé, trình độ quản lý bất cập so với yêu cầu hội nhập, sức vươn
ra thị trường yếu, kinh nghiệm và kỹ năng trong giao dịch đối ngoại chưa nhiều...

+ đầu tư xã hội cho các ngành công nghiệp phụ trợ và hạ tầng phục vụ xuất khẩu (như cảng biển, cửa khẩu, sân bay, đường giao thông, hệ thống điện, nước...) nhìn chung còn thấp, chưa đáp ứng yêu cầu hội nhập và phát triển. Một số chương trình, dự án liên quan đến phát triển sản xuất hàng hoá xuất khẩu, mặc dù đã được triển khai thực hiện, nhưng tính khả thi không cao, chậm tiến độ.

+ Công tác tổ chức, đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực còn nhiều bất cập. Tỉnh còn thiếu đội ngũ doanh nhân có trình độ, năng động biết quản lý và giàu kinh nghiệm kinh doanh xuất nhập khẩu. đội ngũ cán bộ nắm vững nghiệp vụ xuất nhập khẩu và thành thạo ngoại ngữ; thợ lành nghề, công nhân kỹ thuật trong các doanh nghiệp còn thiếu và yếu.

- Nguyên nhân khách quan

+ Giá cả nhiều loại hàng hoá trên thị trường thế giới biến động bất thường, như dầu thô, xăng dầu, giá vàng, tỷ giá một số ngoại tệ mạnh, lãi suất ngân hàng… gây khó khăn cho các doanh nghiệp trong sản xuất và kinh doanh.

+ Cùng với xu thế hội nhập, ngày càng xuất hiện nhiều rào cản thương mại mới tinh vi như chống phá giá, tiêu chuẩn xã hội, môi trường, an toàn vệ sinh thực phẩm... gây khó khăn và tổn thất không nhỏ cho hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh.

 

 

 

Các tin liên quan
Cơ hội đầu tư - kinh doanh
Thông kê truy cập
Số khách đang online: 380
Số lượt khách đã truy cập: 5195187

Cq chủ quản: Sở Công Thương Nghệ An

Thực hiện: Trung Tâm Xúc Tiến Thương Mại N An

Đc: 70 Nguyễn Thị Minh Khai, Vinh, Nghệ An

Tel: 038.3596628, Fax: 038.3596638,

Email: ntpcnghean@hn.vnn.vn

GP Số:113/GP-TTĐT Cục Phát thanh Truyền hình và TTĐT cấp ngày 09/6/2011.

Chịu trách nhiệm chính : Ô. Nguyễn Trọng Hùng, Giám đốc Trung tâm

Bản quyền:Trung tâm Xúc tiến Thương mại Nghệ An

Nghe An Trade Promotion Centre (NTPC)