Sau khi Nghị quyết 06 ban hành, tình hình TTCN, phát triển nghề, ngành nghề ở nông thôn, các thành phố, thị xã đã có bước chuyển biến mạnh, nhiều địa phương đạt chỉ tiêu đột phá. Giá trị sản xuất TTCN giai đoạn 2001 - 2009 liên tục tăng trưởng và đạt tốc độ cao: Toàn tỉnh năm 2001 tổng giá trị TTCN là: 515 tỷ đồng (tốc độ tăng trưởng 12%) đến năm 2006 đạt 1.361,3 tỷ đồng (tốc độ tăng trưởng 23%), năm 2009 đạt tới 2.330,6 tỷ đồng, với tốc độ tăng trưởng 18,32%, so với năm 2001 tăng 4,52 lần. Tỷ trọng giá trị TTCN trong cơ cấu kinh tế chung của tỉnh bình quân đạt 25-35%, một số địa phương đạt mức 40 - 45% trong giá trị công nghiệp - xây dựng. Năm 2001 giá trị sản xuất chỉ đạt trên 71,4 tỷ đồng, đến năm 2006, đạt 340,3 tỷ đồng, năm 2009 là 700 tỷ đồng, so với năm 2001 tăng 9,8 lần. Một số lĩnh vực sản xuất sản phẩm làng nghề có giá trị và tốc độ tăng trưởng bền vững và khá cao như: Sản xuất mây tre đan xuất khẩu, chế biến hải sản, mộc mỹ nghệ, vật liệu xây dựng và dâu tằm tơ. Nhiều huyện sản xuất TTCN trở thành lĩnh vực chủ lực, chiếm tỷ trọng giá trị kinh tế của xã từ 70 - 80% như: Mây tre đan xã Nghi Phong, Nghi Thái (Nghi Lộc); Chế biến hải sản Diễn Ngọc, Diễn Bích (Diễn Châu); Sản xuất mộc dân dụng, mỹ nghệ Quỳnh Nghĩa, Quỳnh Hưng (Quỳnh Lưu); Sản xuất gạch ngói Nghĩa Hoàn (Tân Kỳ); Đóng tàu thuyền Nghi Thiết (Nghi Lộc)…
Nghệ An là tỉnh có nhiều nghề truyền thống như: Ươm tơ kéo sợi ở Đặng Sơn, nồi đất ở Trù Sơn (Đô Lương); Đúc đồng ở Diễn Tháp, nước mắm Vạn Phần (Diễn Châu); Rèn Thanh Lương (Thanh Chương); Mây tre đan Nghi Thái, Nghi Phong (Nghi Lộc); Sản xuất vật liệu xây dựng, tơ tằm, chế biến hải sản,…Nhưng do ảnh hưởng của cơ chế thị trường nên các nghề truyền thống bị mai một. Nhiều địa phương lúng túng trong việc chỉ đạo định hướng, thiếu giải pháp thích hợp, thậm chí có nơi không quan tâm lĩnh vực này.
Sau khi có Nghị quyết 06, UBND tỉnh đã ban hành các quy định về tiêu chuẩn làng nghề, làng có nghề. Chỉ sau vài năm số lượng đã tăng đáng kể: Năm 2004 có 110 làng có nghề, trong đó 36 làng nghề được UBND tỉnh công nhận, tổng số lao động 19.465 người trong đó 11.346 lao động tham gia làm nghề chiếm 58,3%, giá trị sản xuất 278,3 tỷ đồng. Năm 2007, số làng có nghề đã tăng lên 205 làng, 55 được công nhận, có 26.391 lao động trong đó 15.198 lao động tham gia làm nghề chiếm 57,5 %, giá trị sản xuất 154,9 tỷ đồng. Tính đến năm 2009, toàn tỉnh đã khôi phục, xây dựng phát triển 317 làng có nghề (trong đó có 83 làng nghề được tỉnh công nhận, thu hút 37.148 lao động trong làng nghề, trong đó lao động làm nghề là 20.660 người, 12.661 hộ gia đình tham gia sản xuất ngành nghề. Điển hình phát triển mạnh ở các huyện: Quỳnh Lưu, Nghi Lộc, Diễn Châu, Yên Thành, Hưng Nguyên, Thành phố Vinh. Các huyện đồng bằng và miền núi khôi phục phát triển chậm hơn, phong trào đã bắt đầu khơi dậy như: Tân Kỳ, Thanh Chương, Đô Lương, Nam Đàn, Quỳ Châu, Thị xã Cửa Lò, Anh Sơn, Kỳ Sơn, Con Cuông, Quế Phong.
Những tồn tại trong quá trình phát triển làng nghề
Trình độ chuyên môn kỹ thuật và năng lực quản lý của các chủ hộ, cơ sở ngành nghề nông thôn còn hạn chế, phần lớn chưa được trang bị những kiến thức cơ bản về quản trị kinh doanh, pháp luật và chính sách liên quan tới các hoạt động kinh tế. Lao động trong các cơ sở ngành nghề nông thôn nhìn chung có trình độ văn hóa, tay nghề chưa cao. Phần lớn lao động được truyền nghề và kèm cặp trong sản xuất; rất ít được học qua các trường dạy nghề chính quy.
Môi trường bị ô nhiễm: Từ những hạn chế về công nghệ, thiết bị, mặt bằng sản xuất, trình độ quản lý, và chưa có sự quan tâm đến các biện pháp xử lý ô nhiễm môi trường nên đa số cơ sở trong quá trình sản xuất đã gây ảnh hưởng xấu đến môi trường (chế biến hải sản, đúc kim loại) gây ô nhiễm không khí, nguồn nước.
Quy mô sản xuất của các cơ sở còn nhỏ, công nghệ sản xuất còn lạc hậu, phổ biến là sử dụng ngay trong nhà làm xưởng sản xuất; Mẫu mã chưa đa dạng, chất lượng sản phẩm còn hạn chế chưa có tính cạnh tranh cao trên thị trường, công tác tìm kiếm phát hiện thị trường còn yếu. Ảnh hưởng cho việc phát triển ngành nghề và xây dựng làng nghề nông thôn.
Doanh nghiệp vừa và nhỏ, cơ sở sản xuất kinh doanh, là nơi trực tiếp tổ chức sản xuất, cung cấp mẫu mã, nguyên liệu và bao tiêu sản phẩm,ở Nghệ An đội ngũ này không có nhiều nên người dân học nghề xong chủ yếu làm thuê cho các địa phương khác hoặc bỏ nghề vì không đảm bảo được cuộc sống.
Mục tiêu giai đoạn 2011 – 2015:
Các làng nghề cần đầu tư ưu tiên trong giai đoạn 2011 - 2015 là lĩnh vực: Chế biến nước mắm cá, bột cá, chế biến thực phẩm (tương, bún bánh), mây tre đan, mây giang xiên, mộc mỹ nghệ, đá mỹ nghệ, chế biến khoáng sản. Phát triển nghề thêu ren, móc sợi, mây giang xiên, dệt thổ cẩm, sửa chữa cơ khí. Phấn đấu đến năm 2015 giá trị sản xuất ngành nghề TTCN đạt trên 3.500 tỷ đồng, trong đó kim ngạch xuất khẩu đạt 18 triệu USD. Xây dựng thêm 50 làng nghề đạt tiêu chuẩn, đưa tổng số làng nghề được tỉnh công nhận đạt 150 làng, giải quyết cho 20 vạn lao động có việc làm ổn định.
Giải pháp:
1. Tạo điều kiện để các doanh nghiệp đầu mối phát triển làm nòng cốt tiêu thụ sản phẩm cho các làng nghề: Hỗ trợ Phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ, cơ sở sản xuất kinh doanh thuộc các thành phần kinh tế khác nhau trên địa bàn nông thôn để tiêu thụ sản phẩm cho các làng nghề, từ đó tạo đà cho các làng nghề phát triển ổn định và bền vững, duy trì và phát triển nguồn lao động.
2. Hỗ trợ cung cấp thông tin; xây dựng hệ thống phát triển mẫu mã thủ công mỹ nghệ; xây dựng các dự án phát triển nghề và làng nghề; dự án phát triển các sản phẩm có thể cạnh tranh trên thị trường; Xây dựng và thực hiện chương trình cải thiện môi trường làng nghề; tăng cường năng lực quản lý làng nghề; đặc biệt chú trọng đến nghề thủ công của người dân tộc thiểu số.
3. Các địa phương cần chủ động lập các quy hoạch, phát triển nghề và làng nghề mới kết hợp với các ngành công nghiệp để hình thành sự phân công theo hướng chuyên môn hóa, hợp tác hóa ở địa phương. Lựa chọn, bồi dưỡng, hỗ trợ một số hộ, cơ sở sản xuất kinh doanh có hiệu quả, làm nòng cốt nhằm thu hút lao động trong địa phương, dần hình thành các cụm, điểm SX TTCN hoạt động SXKD.
4. Có chính sách khuyến khích phát triển ngành nghề nông thôn, như chính sách đất đai, chính sách đầu tư, chính sách tín dụng và thuế, chính sách hỗ trợ làng nghề tham gia các hội chợ triển lãm các SP, xúc tiến thương mại giới thiệu sản phẩm ở nhiều kênh thông tin để duy trì phát triển làng nghề, đặc biệt là các làng nghề truyền thống.
5. Phát triển nguồn nhân lực: Chú trọng bồi dưỡng đào tạo, nâng cao nghiệp vụ đối với đội ngũ cán bộ quản lý, cán bộ kinh tế, cán bộ kỹ thuật, công nhân lành nghề, thợ cả. Gắn đào tạo với bố trí sử dụng nhằm khôi phục và phát triển nghề, làng nghề truyền thống, phù hợp với điều kiện kinh tế, đặc điểm dân cư và tập quán của từng địa phương; Có chính sách thu hút nhân tài chất xám.
6. Nâng cao vai trò và hiệu quả của hoạt động khuyến công trong phát triển công nghiệp, TTCN, du nhập nghề, làng nghề mới. Tăng cường đội ngũ cán bộ khuyến công đến cơ sở./.
Anh Tuấn
Trung tâm KC và Tư vấn PTCN
Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng: Còn mơ hồ
Hoạt động khuyến công với công tác đào tạo nghề
Xuất khẩu Nghệ An quý I/ 2012 vượt so với cùng kỳ
Malaysia, một góc nhìn phát triển
Phát triển thủy điện gắn với bảo vệ môi trường bền vững
Dệt may: Nên đầu tư vào phân khúc thị trường thu nhập trung cấp?
Hoạt động công thương Cửa Lò năm 2011, kế hoạch 2012
Hội thảo pháp luật cạnh tranh Việt Nam, kinh nghiệm Nhật Bản
|
Cq chủ quản: Sở Công Thương Nghệ An Thực hiện: Trung Tâm Xúc Tiến Thương Mại N An Đc: 70 Nguyễn Thị Minh Khai, Vinh, Nghệ An Tel: 038.3596628, Fax: 038.3596638, Email: ntpcnghean@hn.vnn.vn |
GP Số:113/GP-TTĐT Cục Phát thanh Truyền hình và TTĐT cấp ngày 09/6/2011. Chịu trách nhiệm chính : Ô. Nguyễn Trọng Hùng, Giám đốc Trung tâm Bản quyền:Trung tâm Xúc tiến Thương mại Nghệ An Nghe An Trade Promotion Centre (NTPC) |