8-9-2010
Bao cao ket qua 2008

Tổng kết tình hình thực hiện nhiệm vụ kế hoạch năm 2008

và kế hoạch năm 2009 của ngành Công Thương tỉnh Nghệ An.

Năm 2008 , năm bản lề của kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2006-2010 và cũng là năm thứ 3 thực hiện các mục tiêu, chỉ tiêu Đại hội Đảng bộ tỉnh Nghệ An lần thứ XVI; tình hình kinh tế thế giới và trong nước biến động rất phức tạp, khó lường, thậm chí vận động theo xu hướng trái chiều đã ảnh hưởng không nhỏ đến kinh tế- xã hội của Nghệ An; giá cả hầu hết các mặt hàng tăng cao cùng với tác động của thiên tai dịch bệnh đã làm cho sản xuất, kinh doanh và đời sống của nhân dân gặp nhiều khó khăn, nhất là người nghèo, đồng bào dân tộc vùng sâu vùng xa, vùng bị ảnh hưởng nặng nề của thiên tai và dịch bệnh.

Dưới sự lãnh đạo của BCH Tỉnh uỷ, thường vụ Tỉnh uỷ và được sự chỉ đạo, điều hành sâu sát của UBND tỉnh, sự phối hợp tích cực giữa các Sở, ban, ngành; sự nổ lực của các địa phương và các doanh nghiệp; Sở Công Thương đã tập trung tổ chức triển khai thực hiện các nhiệm vụ Tỉnh giao, vượt qua mọi khó khăn trở ngại và đã thu được những kết quả trong cải cách hành chính, trong công tác quản lý Nhà nước về lĩnh vực Công Thương, góp phần tích cực đưa hoạt động sản xuất công nghiệp và kinh doanh thương mại trên địa bàn Nghệ An duy trì tốc độ tăng trưởng khá và tiếp tục phát triển, kết quả cụ thể như sau:

Phần thứ nhất

Tình hình thực hiện kế hoạch phát triển công nghiệp,

thương mại năm 2008

I. Kết quả thực hiện các chỉ tiêu chủ yếu

1. Sản xuất công nghiệp

1.1. Giá trị sản xuất : Sản xuất công nghiệp tiếp tục tăng trưởng với tốc độ khá, giá trị sản xuất đạt 6.669,65 tỷ đồng, tăng 17,08% so với năm 2007, đạt 98,52% kế hoạch. Trong đó:

Phân theo ngành kinh tế:

- Công nghiệp khai thác 389,36 tỷ đồng, tăng 18,0%, đạt 86,52% kế hoạch.

- Công nghiệp chế biến 6.171,6 tỷ đồng, tăng 17,11%, đạt 102,1% kế hoạch.

- Công nghiệp điện, nước 108,7 tỷ đồng, tăng 112,3%, đạt 39,5% kế hoạch.

Phân theo thành phần kinh tế:

- DN nhà nước Trung ương: 2.681,7 tỷ đồng, tăng 8,8%, đạt 91,7% kế hoạch.

- DN nhà nước địa phương: 312 tỷ đồng, đạt 123,8% kế hoạch.

- DN ngoài nhà nước 3.200 tỷ đồng, tăng 22,6%, đạt 101,7% kế hoạch.

- Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 787,95 tỷ đồng, tăng 26,64%, đạt 112,6% kế hoạch. Lĩnh vực này đạt tốc độ tăng trưởng cao chủ yếu nhờ đảm bảo nguyên liệu mía phục vụ chế biến đường với năng suất và sản lượng khá.

1.2. Các sản phẩm chủ yếu

Các doanh nghiệp đã tận dụng, khai thác tốt năng lực sản xuát, nhất là các ngành sản xuất vật liệu xây dựng, đồ uống, dệt may, chế biến nông sản, chế biến thực phẩm. Ba sản phẩm chủ lực của ngành đạt tốc độ tăng trưởng cao, sản xuất ổn định: đường kính tăng 25,6%, bia tăng 24,34%, xi măng đã khai thác tối đa công suất thiết bị nhưng nhờ tăng thời gian sản xuất nên vẫn đạt mức tăng trưởng 3,5%. Một số sản phẩm khác có tốc độ tăng trưởng cao như: Cột điện ly tâm 25,98%, Đá trắng 26%, Gạch quy chuẩn 19,5%, Thiếc 17,6%, Quần áo dệt kim 17,4%, Đá Bazan 16,2%, Ngói 15,1%, Thuốc lá 14,5%, Bao bì các loại 10%,... Các sản phẩm sản xuất và tiêu thụ ổn định như: Sợi, phân bón, sữa chế biến, dầu thực phẩm, chè búp khô, nước mắm,...

1.3. Kết quả phát triển một số ngành, lĩnh vực

a) Công nghiệp khai thác và chế biến khoáng sản

Các loại sản phẩm khai thác và chế biến khoáng sản mặc dù chưa khai thác tối đa năng lực, nhưng khối lượng đều tăng cao so với năm 2007 như: Đá trắng xuất khẩu 270 ngàn tấn tăng 26%; Thiếc thỏi 2.195 tấn tăng17,6%; Đá Bazan 63,9 ngàn tấn tăng 16,2% . Tuy nhiên so với kế hoạch vẫn không đạt, nguyên nhân tiến độ các dự án chậm hoàn thành hoặc vướng mắc trong khâu cấp mỏ

b) Công nghiệp chế biến

* Công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản:

- Sản xuất đường chuẩn bị tốt hơn về nguyên liệu nên thời gian ép tăng hơn một tháng so với niên vụ trước, sản lượng cả năm đạt 47.000 tấn, tăng 25,6% so với năm 2007.

- Sản xuất tinh bột sắn, chế biến chè búp duy trì được nhịp độ sản xuất nhờ thị trường tiêu thụ ổn định và nguyên liệu chuẩn bị khá tốt. Công tác xử lý môi trường đã được doanh nghiệp quan tâm.

- Chế biến thuỷ sản xuất khẩu tăng trưởng khá, giá xuất khẩu ổn định, sản phẩm xuất khẩu chủ yếu là tôm đông lạnh hiện được thị trường các nước EU ưa chuộng, sản lượng xuất khẩu năm 2008 đạt 2.545 tấn, tăng 5,82% so với cùng kỳ. Các cơ sở chế biến hải sản nội địa hoạt động ổn định với các sản phẩm chính là nước mắm bình quân đạt từ 1,5-2 triệu lít/doanh nghiệp, sản lượng nước mắm đạt 27 triệu lít tăng 10,2% so năm 2007. Khó khăn lớn nhất hiện nay của các doanh nghiệp xuất khẩu là thiếu vốn lưu động.

- Chế biến nước dứa cô đặc không có sản phẩm do giá xuất khẩu giảm. Doanh nghiệp gặp khó khăn về vốn, không thanh toán kịp thời cho người trồng dứa nên nhiều hộ nông dân bỏ cây dứa chuyển sang trồng cây khác. Hiện nay Công ty CP thực phẩm Nghệ An đã bán 50% cổ phần của nhà máy cho Tập đoàn tài chính dầu khí và đang nỗ lực tìm các giải pháp để phục hồi sản xuất.

- Các cơ sở chế biến gỗ có quy mô nhỏ đã linh hoạt trong khâu nguyên liệu và tiêu thụ sản phẩm nên sản xuất ổn định.

* Công nghiệp sản xuất VLXD : Sản xuất xi măng khai thác tối đa năng lực thiết bị. Sản xuất gạch ngói, khai thác đá,… tăng trưởng mạnh do nhu cầu xây dựng ngày càng lớn; Các cơ sở sản xuất gạch, ngói Hoàng Mai, Nam Đàn, Đô Lương, Hưng Nguyên, Tân Kỳ,.. tăng tối đa công suất, sản phẩm tiêu thụ nhanh.

* Công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng và xuất khẩu:

- Ngành dệt may mặc dù chịu sức ép cạnh tranh ngày càng lớn nhưng hoạt động của các doanh nghiệp có nhiều khởi sắc và đạt sản lượng cao như: sản phẩm dệt kim tăng 17,4%, quần áo may sẵn tăng 7,07%, góp phần tăng kim ngạch xuất khẩu.

- Sản xuất giấy năm 2008 đạt 10.150 tấn; Sản xuất bao bì phát triển mạnh, các dây chuyền quy mô nhỏ đều phát huy hiệu quả sản xuất, sản lượng đạt 59,9 triệu bao, tăng 10,0% so với năm 2007 .

* Sản xuất thực phẩm, đồ uống :

- Sản lượng bia đạt trên 48 triệu lít, tăng 24,34%. Sản xuất và tiêu thụ bia tăng nhanh đã góp phần quan trọng cho tăng trưởng công nghiệp và làm tăng nguồn thu ngân sách của Tỉnh.

- Do tác động của hiện tượng một số sản phẩm sữa xuất xứ từ Trung Quốc nhiễm chất melamine đã ảnh hưởng xấu đến tâm lý của người tiêu dùng; Sản xuất và chế biến sữa gặp nhiều khó khăn. Tuy nhiên sản lượng sữa của Nhà máy Sữa Nghệ An vẫn đạt 16,2 triệu lít, tăng 11,7% so năm 2007, hiện nay nhà máy đang đẩy nhanh tiến độ đầu tư trang trại nuôi bò sữa tại Nghĩa Đàn để giảm nhập khẩu nguyên liệu, góp phần nâng cao đời sống của các hộ chăn nuôi. Nhà máy dầu Tường An khai thác hiệu quả công suất dây chuyền đạt sản lượng 27.000 tấn. Sản xuất nước tinh khiết, đá tinh khiết phát triển khá mạnh, tăng 21,5% so với năm 2007.

* Sản xuất hóa chất, phân bón : Sản xuất và cung cấp phân bón NPK ổn định, các doanh nghiệp đang từng bước đổi mới công nghệ để nâng cao chất lượng sản phẩm, đáp ứng nhu cầu phát triển nông nghiệp của tỉnh. Sản lượng cả năm ước đạt 106 ngàn tấn, tăng 26,2%.

* Công nghiệp cơ khí :

- Một số doanh nghiệp trong lĩnh vực cơ khí phụ trợ kinh doanh ổn định như: Công ty TNHH Định Nhàn, Công ty CP cơ khí và xây lắp 250 Phù Quỳ.

- Ngành cơ khí ô tô, xe máy chỉ dừng lại ở công đoạn lắp ráp và sản xuất một số phụ tùng, thiết bị. Sản phẩm tiêu thụ chậm do chất lượng thấp, chưa khẳng định được thương hiệu.

- Ngành cơ khí chế tạo chủ yếu là gia công một số linh kiện cho các nhà máy trên địa bàn theo đơn đặt hàng. Các doanh nghiệp sản xuất đang gặp khó khân, sản xuất cầm chừng, chưa có phương án kinh doanh lâu dài .

c) Công nghiệp sản xuất và phân phối điện, nước

* Nguồn và lưới điện: Tính đến nay, đã có 9 dự án thuỷ điện đã khởi công xây dựng với tổng công suất lắp máy đạt 691 MW. Trong năm 2008, có thêm 05 công trình được thẩm định thiết kế cơ sở, gồm: Khe Choang, Nậm Pu, Nậm Típ, Yên Thắng, Xốp Cốc. Khảo sát, kiểm tra đề xuất UBND tỉnh bổ sung qui hoạch thủy điện vừa và nhỏ 03 dự án là Châu Thắng, Nậm Mô 2, Hạnh Dịch.

Tổ chức xét thầu cho 12 gói thầu xây lắp, 02 gói thầu giám sát thi công, 02 gói thầu bảo hiểm thi công xây dựng. Triển khai lập và trình duyệt lại dự toán các gói thầu còn lại của dự án theo giá thời điểm.

* Sản xuất và phân phối nước : Cung cấp nước đạt gần 15,3 triệu m3, tăng trên 8,0% so với năm 2007. Tổng công suất cấp nước các nhà máy hiện nay đạt trên 80 ngàn m3/ngày, cơ bản đáp ứng nhu cầu về nước ở thành phố Vinh, TX Cửa Lò và một số huyện: Hưng Nguyên, Nam Đàn, Con Cuông, Nghĩa Đàn, Tân Kỳ,...

2. Hoạt động thương mại

2.1. Thị trường nội tỉnh

- Tổng mức lưu chuyển hàng hóa bán lẻ - dịch vụ xã hội đạt 16.130 tỷ đồng, vượt 7,64% so kế hoạch và tăng 29,1% so năm 2007.

- Thị trường năm 2008 sôi động diễn biến khá phức tạp. Khối lượng hàng hóa lưu thông lớn, mặt hàng đa dạng, các tổ chức doanh nghiệp cung ứng hàng đáp ứng nhu cầu cơ bản cho sản xuất và tiêu dùng của nhân dân.

2.2. Hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu

a) Về xuất khẩu :

- Quy mô và tốc độ tăng trưởng: Kim ngạch xuất khẩu đạt 265,9 triệu USD, vượt 13,1% so kế hoạch, tăng 26,9% so năm 2007. Trong đó: Xuất khẩu hàng hoá 143,7 triệu USD, đạt 99,1% kế hoạch, tăng 22,1% so với năm 2007; Xuất khẩu lao động 111,8 triệu USD; Dịch vụ thu ngoại tệ 10,4 triệu USD.

- Mặt hàng xuất khẩu: năm 2008 có trên 35 mặt hàng, nhóm hàng được xuất khẩu ra nước ngoài. Một số mặt hàng, nhóm hàng tăng trưởng khá và chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu các mặt hàng xuất khẩu như: mủ cao su 19,7 triệu USD, dăm gỗ 16,8 triệu USD; đá vôi trắng 10,9 triệu USD; phân bón 40,1 triệu USD ...; Một số nhóm, mặt hàng gặp khó khăn, xuất khẩu giảm, giá cả liên tục giảm như các mặt hàng gỗ, bột sắn, cà phê, mủ cao su… đã ảnh hưởng không nhỏ tới kim ngạch xuất khâu của tỉnh.

- Thị trường xuất khẩu: năm 2008 đã có bước khởi sắc, các thị trường truyền thống như: Trung Quốc, Lào… tiếp tục được duy trì và phát triển, thị trường Mỹ, EU và Châu phi đã được các doanh nghiệp đang quan tâm tiếp cận tích cực.

- Doanh nghiệp xuất khẩu: hiện nay trên địa bàn tỉnh có trên 80 doanh nghiệp tham gia xuất khẩu trực tiếp, trong đó có 65 doanh nghiệp thường xuyên tham gia xuất khẩu hàng hóa bao gồm 57 doanh nghiệp địa phương, 05 doanh nghiệp TW và quốc phòng, 03 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Các doanh nghiệp có kim ngạch xuất khẩu cao như Công ty CP Vật tư nông nghiệp 40 triệu USD, Công ty CP ĐTPT Miền núi 14,6 triệu USD, Công ty CP Nông sản XNK tổng hợp 8,1 triệu USD, Công ty TNHH Thanh Thành Đạt 7,3 triệu USD, Công CP Lương thực Thanh Nghệ Tĩnh 6,8 triệu USD, Công ty Đầu tư PT Chè Nghệ An 6 triệu USD…

b) Về nhập khẩu : Kim ngạch nhập khẩu năm 2008 đạt 190,8 triệu USD, tăng 79,8% so năm 2007, góp phần tăng nguồn thu ngân sách Trung ương. Hàng hoá nhập khẩu chủ yếu là phân bón, xe máy, nguyên liệu sản xuất và máy móc thiết bị để đổi mới công nghệ sản xuất. Các doanh nghiệp có kim ngạch nhập khẩu cao như Công ty HTQK4 50,7 triệu USD, Công ty CP Vật tư nông nghiệp 48,2 triệu USD, Công CP Thương mại 20,3 triệu USD, Công ty CP Bao bì SABECO-Sông Lam 19,6 triệu USD, Công ty TNHH XNK Hùng Hưng 14,3 triệu USD…

2.3. Phục vụ hàng chính sách miền núi

- Cung ứng đủ các mặt hàng chính sách thiết yếu phục vụ miền núi. Khối lượng hàng cung ứng năm 2008: muối i ốt trên 6.301 tấn, dầu thắp sáng 72 tấn, hàng chục ngàn tập sách vở, góp phần đáp ứng kịp thời nhu cầu sản xuất và tiêu dùng cho nhân dân trên địa bàn miền núi.Thu mua kịp thời hàng ngàn tấn các loại nông sản thực phẩm cho khu vực miền núi nhất là vùng sâu, vùng xa. Các doanh nghiệp đã thực hiện tốt nhiệm vụ cung ứng hàng chính sách là Công ty CP ĐTPT Miền núi, Công ty CP TMDV và DL Phủ Quỳ.

3. Hoạt động khuyến công và xúc tiến thương mại

- Hoạt động khuyến công : có nhiều tiến bộ, bước đầu đã mang lại hiệu quả, tạo điều kiện đẩy nhanh phát triển doanh nghiệp, phát triển nghề TTCN và làng nghề, năm 2008 đã tham mưu đề xuất hỗ trợ 114 chương trình, đề án, với tổng số tiền hỗ trợ gần 4 tỷ đồng đồng đạt 100% kế hoạch.

Năm 2008 Trung tâm khuyến công đã phối hợp thực hiện 12 chuyên đề Truyền hình công nghiệp và xuất bản 3 số Bản tin công nghiệp. Chủ trì tổ chức thành công hội nghị khuyến công 29 tỉnh, thành phố phía Bắc lần thứ 3, tập huấn khuyến công i và bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước trên 500 người là cán bộ các Sở, ngành, các huyện, thành thị và các doanh nghiệp công nghiệp trên địa bàn.

- Hoạt động xúc tiến thương mại : Chỉ đạo các đơn vị tổ chức 09 cuộc hội chợ thương mại trên địa bàn tỉnh, trong đó có 03 cuộc tổ chức tại các huyện miền núi, tham gia 01 hội chợ ở Trung Quốc. Tổ chức 02 cuộc hội thảo trên địa bàn huyện Quỳ Hợp về chủ đề marketing và phát triển sản phẩm mới. Tư vấn thường xuyên cho các doanh nghiệp trong các lĩnh vực: xây dựng và bảo vệ thương hiệu, tư vấn nghiệp vụ giao dịch thương mại quốc tế, thanh toán quốc tế, vận tải và bảo hiểm, Luật Thương mại,...

II. Hoạt động công thương cấp huyện

1. Tiểu thủ công nghiệp, xây dựng và phát triển làng nghề

* Tiểu thủ công nghiệp : Giá trị SXTTCN do các huyện, thành, thị quản lý ước đạt 2.008,7 tỷ đồng, tăng 18,32% so với cùng kỳ và đạt 98,8% kế hoạch. TTCN phát triển thu hút một lực lượng lao động lớn có việc làm và thu nhập ổn định. Một số huyện có giá trị sản xuất TTCN lớn đạt tốc độ tăng trưởng cao như: Thành phố Vinh 20%, Quỳnh Lưu 18,73%, Nghi Lộc 17,8%, Quỳ Hợp 19,44%, Diễn Châu 19%, Nam Đàn 19,9%. Các huyện đạt tốc độ tăng trưởng khá là: Yên Thành, Đô Lương, Anh Sơn, Quỳ Châu, Hưng Nguyên. Các huyện miền núi mặc dù sản xuất TTCN còn gặp nhiều khó khăn, giá trị TTCN hàng năm chiếm tỷ trọng thấp nhưng sản xuất TTCN đạt tốc độ tăng trưởng khá cao như: Thanh Chương, Quế Phong; Tân Kỳ, Nghĩa Đàn.

* Xây dựng và phát triển làng nghề, làng có nghề TTCN : Các nghề phát triển mạnh như: mây tre đan, ươm tơ, thêu ren, chế biến nông-lâm-thuỷ sản,.... ở các huyện Nghi Lộc, Diễn Châu, Yên Thành, Quỳnh Lưu. Liên minh HTX xây dựng kế hoạch kiểm tra, thẩm định để trình UBND tỉnh công nhận từ 10-12 làng nghề vào cuối năm 2008.

2. Lĩnh vực thương mại

Hầu hết các huyện đều thực hiện tốt chức năng quản lý nhà nước về hoạt động thương mại, dịch vụ trên địa bàn. Giá trị sản xuất thương mại tăng 18,7% so năm 2007 và bằng 96,3% kế hoạch.

- Công tác tuyên truyền, phổ biến các chủ trương chính sách đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước đã được quan tâm thường xuyên. Hướng dẫn các cơ sở thực hiện tốt nội dung Luật Thương mại, Luật Doanh nghiệp, Luật cạnh tranh, Luật HTX,... và các thông tư hướng dẫn của các Bộ, ngành liên quan.

- Số lượng các doanh nghiệp và hộ kinh doanh cá thể đăng ký thành lập tăng nhanh và đa dạng về loại hình, đáp ứng nhu cầu phát triển và lưu thông hàng hoá cho nhân dân trên địa bàn.

- Một số chợ nông thôn và trung tâm thương mại đang được đầu tư xây dựng, công tác quản lý nhà nước về hoạt động chợ theo Nghị định 02/NĐ-CP ngày 14/01/2003 của Chính phủ về phát triển và quản lý chợ được thực hiện nghiêm túc.

- Phối hợp với các đội quản lý thị trường thường xuyên kiểm tra các hoạt động kinh doanh, các mặt hàng kinh doanh có điều kiện như: kinh doanh xăng dầu, thuốc lá, đo lường chất lượng hàng hoá,... góp phần ổn định thị trường trên địa bàn.

3. Xếp loại kết quả hoạt động công thương cấp huyện.

Những đơn vị có thành tích xuất sắc: Thành phố Vinh, thị xã Cửa Lò, và các huyện Quỳnh Lưu, Nghĩa Đàn, Quỳ Hợp, Diễn Châu, Nghi Lộc, Đô Lương, Thanh Chương, Anh Sơn, Tương Dương.

Những đơn vị có thành tích tốt: Các huyện Hưng Nguyên, Nam Đàn, Tân Kỳ, Yên Thành, Quỳ Châu, Quế Phong, Con Cuông và Kỳ Sơn.

Iii. Công tác quản lý nhà nước

1. Công tác tham mưu chỉ đạo, tuyên truyền phổ biến chủ trương chính sách pháp luật về hoạt động công nghiệp và thương mại.

- Từ đầu năm đến nay, đã tổ chức 12 cuộc hội nghị tuyên truyền, tập huấn, tổng kết (đào tạo bồi dưỡng nghiệp vụ xăng dầu, nghiệp vụ chuyển nhượng quyền thương mại và các qui định của pháp luật về thương mại, nghiệp vụ quản lý nhà nước về công nghiệp, các nghiệp vụ về công tác khuyến công và thực hiện hỗ trợ khuyến công, sử dụng vật liệu nổ công nghiệp,… cho gần 2.000 học viên ở các Sở, ngành, các huyện và doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh.

- Tổ chức học tập và tuyên truyền các chủ trương chính sách và các văn bản pháp qui của Nhà nước liên quan đến chức năng nhiệm vụ của ngành Công Thương (Nghị định số 187/2007/NĐ-CP qui định chức năng nhiệm vụ và quyền hạn của Bộ Công Thương, Thông tư số 07/2008/TTLT-BCT-BNV,…).

2. Công tác xây dựng và quản lý các quy hoạch, kế hoạch

- Là công tác luôn được ngành quan tâm trong nhiều năm qua, theo chương trình công tác năm 2008 của UBND tỉnh Nghệ An, năm 2008 đã xây dựng hoàn chỉnh các quy hoạch, chương trình và được UBND tỉnh phê duyệt, đang triển khai thực hiện như: Quy hoạch phát triển công nghiệp tỉnh Nghệ An đến năm 2020; Danh mục ngành công nghiệp ưu tiên tỉnh Nghệ An đến năm 2020; Quy hoạch khai thác chế biến khoáng sản Nghệ An; Chương trình xúc tiến thương mại trọng điểm tỉnh Nghệ An đến 2010.

- Tiếp tục tổ chức thực hiện các qui hoạch đã phê duyệt (Qui hoạch mạng lưới chợ, mạng lưới kinh doanh xăng dầu, siêu thị, trung tâm thương mại, qui hoạch phát triển các khu công nghiệp nhỏ, điện lực...).

3. Công tác tham mưu ban hành cơ chế chính sách và tổ chức thực hiện

- Tham mưu giúp UBND tỉnh xây dựng và ban hành văn bản qui phạm pháp luật liên quan của ngành theo chương trình của UBND tỉnh đề ra từ đầu năm đảm bảo tiến độ và nội dung, trong đó “Chính sách hỗ trợ di dời các cơ sở sản xuất công nghiệp gây ô nhiễm ra khỏi khu dân cư”.

- Tổ chức thực hiện các chính sách hỗ trợ theo thẩm quyền đảm bảo yêu cầu phát triển ngành như chính sách khuyến công, chính sách khuyến khích phát triển các KCN nhỏ, chính sách phát triển thương mại miền núi.

4. Quản lý nhà nước về điện

- Phối hợp, chỉ đạo Điện lực Nghệ An cân đối, khắc phục kịp thời các khó khăn đảm bảo cung ứng điện đáp ứng nhu cầu sản xuất và tiêu dùng. Tổ chức 3 đoàn kiểm tra hoạt động điện lực trong năm 2008. Kiểm tra, hướng dẫn các tổ chức điện nông thôn hoạt động có hiệu quả, giá điện nông thôn đảm bảo quy định của Nhà nước. Dự án năng lượng nông thôn II đang được triển khai tích cực đảm bảo đúng pháp luật và quy định của Ngân hàng Thế giới.

- Tổ chức kiểm tra tiến độ thực hiện các công trình thủy điện Châu Thôn, Sông Quang, Bản Cốc, Sao Va. Thẩm định thiết kế cơ sở của dự án thuỷ điện Ca Nan 1, Ca Nan 2 của Công ty Cổ phần Bắc Hà. Thẩm định thiết kế kỹ thuật dự toán cho 45 công trình điện.

- Thông tin tuyên truyền về chính sách tiết kiệm điện trong sản xuất và sinh hoạt đến tận cơ sở.

5. Quản lý nhà nước về thương mại

- Hoàn thành việc tổ chức lớp học nghiệp vụ kinh doanh xăng - Quản lý việc triển khai thực hiện các quy hoạch: Quy hoạch phát triển công nghiệp tỉnh Nghệ An đến năm 2020; Quy hoạch thăm dò, khai thác và sử dụng khoáng sản giai đoạn 2007-2015 có tính đến năm 2020; Đề án xác định ngành công nghiệp ưu tiên đến năm 2020 và các giải pháp phát triển. Triển khai xây dựng Quy hoạch phát triển thương mại đến năm 2020.

- Đôn đốc các chủ đầu tư thuỷ điện triển để có giải pháp tháo gỡ khó khăn cho các dự án, kiểm tra thực tế, đôn đốc việc triển khai các công trình thuỷ điện theo Đề án phát triển thuỷ điện tỉnh; Các dự án phát triển công nghiệp đồ uống (Nhà máy Bia Sài Gòn-Sông Lam, Nhà máy Bia Vilaken, Nhà máy sản xuất cồn); nhà máy xi măng Đô Lương giai đoạn I công suất 900.000 tấn/năm, mạng lưới thương mại, phát triển khu kinh tế cửa khẩu,...

- Triển khai đầu tư hệ thống kết cấu hạ tầng thương mại như mạng lưới đại lý thu mua, các trung tâm thương mại hệ thống chợ nông thôn. Hoàn thành xây dựng để đầu năm 2009 đưa vào sử dụng một số chợ miền núi: Đỉnh Sơn (Anh Sơn), Tân An (Tân Kỳ), Thanh Hương (Thanh Chương), Giang Sơn (Đô Lương), Mường Xén (Kỳ Sơn). Tiếp tục kêu gọi tìm kiếm đối tác để đầu tư xây dựng hạ tầng Trung tâm Hội chợ triển lãm Nghệ An và các hạng mục còn lại của chợ đầu mối nông sản.

- Tăng cường công tác quản lý nhà nước trong việc thực hiện cơ chế chính sách, quản lý nhà nước về đầu tư, thanh tra, kiểm tra và hỗ trợ doanh nghiệp thông qua chương trình hoạt động của Ban chỉ đạo thực hiện Nghị quyết 06 NQ/TU về phát triển công nghiệp, Ban chỉ đạo 127/CP. Thường xuyên thanh kiểm tra các đại lý kinh doanh xăng dầu, tiến độ xây dựng chợ nông thôn ở các địa phương. Kiểm tra lĩnh vực an toàn điện, quản lý và sử dụng điện nông thôn, khai thác khoáng sản, vật liệu nổ.

- Thường xuyên kiểm tra giám sát chất lượng hàng hoá lưu thông để chống hàng giả, hàng lậu, đảm bảo môi trường cạnh tranh công bằng cho các doanh nghiệp và giữa các thành phần kinh tế. Đề xuất với UBND tỉnh phương án điều tiết thị trường nhằm đảm bảo cung cấp hàng hoá kịp thời không để xẩy ra tình trạng sốt hàng, sốt giá, góp phần kiềm chế tăng chỉ số giá tiêu dùng.

2.2. Tiếp tục chỉ đạo thực hiện các chương trình, đề án trọng điểm

dầu cho 71 học viên, tham mưu để UBND tỉnh chỉ đạo xử lý hoạt động của cửa hàng xăng dầu Bến Thuỷ thuộc Công ty Xăng dầu Nghệ Tĩnh.

- Tiếp tục chỉ đạo triển khai thực hiện đề án chuyển đổi mô hình tổ chức, quản lý khai thác, kinh doanh chợ trên địa bàn toàn tỉnh theo Quyết định số 127/QĐ-UBND của UBND tỉnh. Theo dõi và tổng hợp tình hình đăng ký hoạt động của các doanh nghiệp, các chi nhánh và văn phòng đại diện. Cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh cho 133 cửa hàng xăng dầu, 44 cơ sở khí hoá lỏng, 27 giấy phép kinh doanh rượu và 25 cơ sở kinh thuốc lá.

- Bổ sung, hoàn thiện hệ thống kết cấu hạ tầng thương mại theo quy hoạch như hệ thống chợ nông thôn, siêu thị, trung tâm thương mại trên cơ sở huy động các nguồn lực đầu tư đảm bảo đáp ứng kịp thời yêu cầu phát triển thương mại, lưu thông hàng hoá những tháng cuối năm.

6. Công tác thanh kiểm tra và quản lý thị trường

- Tổ chức kiểm tra về quản lý và sử dụng vật liệu nổ công nghiệp tại 12 đơn vị, kiểm tra chất lượng sản phẩm cột bê tông tại 4 đơn vị phục vụ thực hiện dự án REII; việc sử dụng vốn Ngân sách hỗ trợ nâng cấp và xây dựng lưới điện hạ thế nông thôn theo QĐ số 64/2004/QĐ-UBND và kiểm tra quản lý điện nông thôn tại các xã: Hưng Lợi (Hưng Nguyên), Thanh Hương (Thanh Chương).

- Tham gia kiểm tra hoạt động vận chuyển, mua bán, tàng trữ trái phép các loại khoáng sản, than…tại các huyện Quỳ Hợp, Nghĩa Đàn, Quế Phong.

- Phối hợp với các ngành liên quan tổ chức các đợt kiểm tra kiểm soát thị trường, kiểm tra đăng ký kinh doanh, niêm yết giá, hàng giả, hàng kém chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm, chấp hành qui định nhãn mác hàng hóa, sở hữu công nghiệp, góp phần ngăn chặn kịp thời tình trạng buôn lậu và gian lận thương mại tại các vùng trên địa bàn tỉnh góp phần ổn định thị trường.; Năm 2008 kiểm tra 1.614 vụ, tăng 10% so năm 2007, xử lý1.043 vụ, trong đó: xử lý buôn lậu, hàng cấm 81 vụ; hàng giả, hàng vi phạm quy định về nhãn hàng hoá 608 vụ; thủ tục đang ký kinh doanh 159 vụ; các vi phạm khác 195 vụ. Thu phạt nộp ngân sách Nhà nước 4.092 triệu đồng.

7. Công tác hội nhập kinh tế quốc tế

Thực hiện tốt vai trò là cơ quan thường trực Ban chỉ đạo hội nhập kinh tế quốc tế. Phối hợp với các ngành tổ chức thực hiện chương trình hành động của Nghệ An về một số chủ trương, chính sách lớn để nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững khi Việt Nam là thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới.

8. Công tác cải cách hành chính, tổ chức cán bộ, thực hiện qui chế dân chủ cơ sở, phòng chống thiên tai

- Triển khai thực hiện Quyết định số 1446/QĐ-UBND ngày 24/4/2008 của UBND tỉnh về việc hợp nhất 2 Sở Công nghiệp và Thương mại thành Sở Công Thương nhanh gọn, dân chủ đảm bảo vai trò lãnh đạo của Đảng. Bộ máy của Sở Công Thương sớm ổn định, tư tưởng của cán bộ công chức, viên chức an tâm, các hoạt động của Sở đã đi vào nề nếp và có hiệu quả.

- Tiếp tục duy trì việc niêm yết về nội qui, qui định trách nhiệm, trình tự thủ tục xử lý công việc (qui định cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh, xác nhận đăng ký hội chợ triển lãm, cấp phép sử dụng vật liệu nổ công nghiệp,…) đảm bảo thuận lợi, đáp ứng yêu cầu của các tổ chức cá nhân, đảm bảo qui định của pháp luật và qui chế của UBND tỉnh. Tăng cường chỉ đạo tiếp tục thực hiện quy chế dân chủ trong cơ quan theo Nghị định số 71/NĐ-CP của Chính phủ.

- Hoàn chỉnh Đề án xây dựng “Bộ phận giao dịch 1 cửa” đã được UBND tỉnh thông qua và hoạt động từ 01/01/2009.

- Công tác phòng chống bão lụt triển khai kịp thời, kiện toàn Ban chỉ huy phòng chống bão lụt. Kiểm tra việc thực hiện của các đơn vị nhất là địa bàn các huyện miền núi.

iV. Đánh giá chung

1. Những mặt đạt được

- Công tác chỉ đạo của ngành đã bám sát chương trình kế hoạch của TW, của Tỉnh ủy, UBND tỉnh và chức năng nhiệm vụ được giao để chỉ đạo điều hành kịp thời hoạt động của ngành đạt kết quả.

- Các chỉ tiêu kế hoạch của ngành đạt khá. Sản xuất công nghiệp tiếp tục tăng trưởng đạt trên 17%, tổng mức lưu chuyển hàng hoá bán lẻ tăng 29,1%. Thị trường hàng hóa cơ bản được kiểm soát, đóng góp cho nguồn thu ngân sách tỉnh của Ngành công thương tăng đáng kể.

- Công tác quản lý Nhà nước về công thương có hiệu quả, một số lĩnh vực thực hiện tốt như công tác xây dựng qui hoạch, kế hoạch, cơ chế chính sách và tổ chức thực hiện các chính sách hỗ trợ của tỉnh theo thẩm quyền (chính sách khuyến công, tổ chức cung ứng hàng chính sách miền núi, hỗ trợ doanh nghiệp cơ sở sản xuất trong xúc tiến thương mại, xây dựng thương hiệu sản phẩm,…), công tác thanh tra kiểm tra sử dụng vật liệu nổ, hoạt động thị trường, chống buôn lậu và gian lận thương mại đã góp phần ổn định thị trường phục vụ tốt cho sản xuất tiêu dùng.

2. Những tồn tại

- Công tác quản lý nhà nước một số mặt còn hạn chế và chưa hoàn thành mục tiêu kế hoạch đề ra từ đầu năm.

- Công tác kiểm tra, kiểm soát thị trường mặc dù được tăng cường thường xuyên nhưng tình trạng hàng giả, hàng kém chất lượng chưa được kiểm soát chặt chẽ. Kiểm tra hoạt động điện lực thực hiện chưa thường xuyên, hiệu quả chưa cao. Hoạt động xúc tiến thương mại còn đơn điệu.

- Phối hợp giữa các ngành, các cấp với địa phương trong chỉ đạo thực hiện kế hoạch phát triển công thương và các chương trình, đề án hiệu quả chưa cao. Một số huyện triển khai kế hoạch chậm, công tác cung cấp thông tin cho cơ sở còn yếu.

- Tiến độ đầu tư hạ tầng các chương trình dự án chưa kịp thời và - Chỉ đạo thực hiện và thường xuyên kiểm tra tiến độ các chương trình, dự án trọng điểm theo Nghị quyết số 01-NQ/TU của Ban chấp hành Tỉnh uỷ: Đề án phát triển KCN nhỏ, phát triển công nghiệp đồ uống, phát triển thuỷ điện, chương trình dệt may, phát triển kinh tế cửa khẩu, mạng lưới thương mại miền Tây,...

- Đánh giá kết quả thực hiện "Chương trình hành động của Nghệ An về thực hiện Nghị quyết hội nghị lần thứ IV của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về một số chủ trương, chính sách lớn để nền kinh tế phát triển mạnh và bền vững khi Việt Nam là thành viên của WTO".

- Triển khai xây xựng kịp thời các đề án: Cấp điện cho các xã chưa có điện trên địa bàn Nghệ An; Bổ sung quy hoạch điện cho Đảo Ngư và các huyện vùng ven biển và Đề án phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp vùng ven biển.

3. Các chỉ tiêu chủ yếu:

Quyết định số 5798/QĐ.UBND ngày 23/12/2008 của Chủ tịch UBND tỉnh Nghệ An về việc thông báo chỉ tiêu kế hoạch kinh tế xã hội năm 2009 như sau:

3.1. Sản xuất công nghiệp

a) Giá trị sản xuất (giá CĐ1994) : 7.823 tỷ đồng.

Trong đó:

+ Doanh nghiệp nhà nước Trung ương: 2.655 tỷ đồng.

+ Doanh nghiệp nhà nước địa phương: 322 tỷ đồng.

+ Doanh nghiệp ngoài nhà nước: 3.961 tỷ đồng.

+ Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài: 885 tỷ đồng.

b) Giá trị tăng thêm (giá CĐ1994) : 2.921 tỷ đồng.

Trong đó:

+ Doanh nghiệp nhà nước Trung ương: 1.005 tỷ đồng.

+ Doanh nghiệp nhà nước địa phương: 119 tỷ đồng.

+ Doanh nghiệp ngoài nhà nước: 342 tỷ đồng.

+ Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài: 885 tỷ đồng, tăng 15,9%.

c) Một số sản phẩm chủ yếu

- Xi măng 1,7 triệu tấn; Gạch quy chuẩn 500 triệu viên; Cột điện ly tâm 18.000 cột; Điện thương phẩm 1.200 triệu Kw; Tinh bột sắn 30.000 tấn; Muối Iốt 15.000 tấn; Bao bì các loại 65 triệu bao; Bia các loại 50 triệu lít; Nước dứa 2.500 tấn; Nước khoáng 2,5 triệu lít; Giấy các loại 14.000 tấn; Cồn1,2 triệu lít; Sản phẩm dệt kim 3,5 triệu chiếc; Sản phẩm may sẵn 6,5 triệu chiếc; Thiếc 2.400 tấn; Sợi các loại 10.000 tấn; Bật lửa ga 75 triệu cái; Đá trắng các loại 400.000 tấn; Than sạch 20.000 tấn; Thịt đông lạnh 800 tấn; Thuỷ hải sản 3.000 tấn; Dầu thực phẩm 28.000 tấn; Nước mắm 30 triệu lít; Đường kính 145.000 tấn; Chè búp khô 8.000 tấn; Bột mỳ 24.000 tấn;…

- Duy trì phát triển hơn 130 làng có nghề, du nhập thêm nghề mới để phấn đấu cuối năm đạt 200 làng có nghề. Trên cơ sở đó, xây dựng thêm từ 15-20 làng đạt tiêu chuẩn để hết năm kế hoạch toàn tỉnh có 75-80 làng nghề được công nhận, tập trung vào các lĩnh vực: Chế biến nông-lâm sản, thuỷ sản, dâu tằm tơ, dệt thổ cẩm, thủ công mỹ nghệ, chế biến khoáng sản, cơ khí, đan móc sợi,...

3.2.Phát triển thương mại

a)Tổng giá trị hàng hoá bán lẻ và dịch vụ : 18.800 tỷ đồng.

Trong đó: Quốc doanh trung ương 2.130 tỷ đồng; Quốc doanh địa phương 2.700 tỷ đồng; Ngoài quốc doanh 13.970 tỷ đồng.

b) Giá trị sản xuất DV thương mại :

- Theo giá thực tế: 3.000 tỷ đồng

Trong đó: Quốc doanh trung ương 310 tỷ đồng; Quốc doanh địa phương 610 tỷ đồng; Ngoài quốc doanh 2.080 tỷ đồng.

- Theo giá cố đinh 1994: 1.950 tỷ đồng

Trong đó: Quốc doanh trung ương 150 tỷ đồng; Quốc doanh địa phương 290 tỷ đồng; Ngoài quốc doanh 1.510 tỷ đồng

c) Giá trị tăng thêm DV thương mại :

- Theo giá thực tế: 1.950 tỷ đồng

Trong đó: Quốc doanh trung ương 240 tỷ đồng; Quốc doanh địa phương 400 tỷ đồng; Ngoài quốc doanh 1.310 tỷ đồng.

- Theo giá cố đinh 1994: 1.400 tỷ đồng

Trong đó: Quốc doanh trung ương110 tỷ đồng; Quốc doanh địa phương 210 tỷ đồng; Ngoài quốc doanh 1.080 tỷ đồng.

d) Kim ngạch xuất khẩu : 260 triệu USD.

Trong đó: Xuất khẩu hàng hoá 150 triệu USD; Dịch vụ thu ngoại tệ 8 triệu USD; Xuất khẩu lao động 102 triệu USD.

e) Một số mặt hàng xuất khẩu chủ yếu : Gạo 10.000 tấn; Lạc nhân 20.000 tấn; Vừng 1.000 tấn; Tinh bột sắn 90.000 tấn; Chè búp khô 7.000 tấn; Cà phê 8.000 tấn; Mủ cao su 8.000 tấn; Nước dứa cô đặc 2.000 tấn, Sản phẩm gỗ tinh chế 6.000m3 ; Gỗ mỹ nghệ 3,5 triệu SP; Gỗ dăm 80.000 tấn; Sản phẩm dệt may 3 triệu SP; Thủy hải sản các loại 2.000 tấn; Quặng các loại 60.000 tấn; Đá trắng 400.000 tấn; Thiếc thỏi 2.000 tấn... .

g) Kim ngạch nhập khẩu 193 triệu USD, tập trung chủ yếu vào các mặt hàng như: phân bón, xe máy, nguyên liệu và máy móc thiết bị phục vụ hoạt động sản xuất.

h) Kế hoạch cung cấp hàng hoá chính sách miền núi như sau:

- Muối I ốt: 8.000 tấn

- Dầu hoả thắp sáng: 95-100 tấn

- Cung ứng đầy đủ giấy vở học sinh và tổ chức thu mua khoảng 4.500 tấn hàng hoá nông sản trên địa bàn các huyện miền núi.

i) Kế hoạch đầu tư phát triển chợ năm 2009 :

- Tiếp tục hoàn thiện 5 công trình chuyển tiếp từ năm 2008 gồm: Chợ cây Chanh, Tân An, Mường Xén, Thanh Hương, Giang Sơn với nguồn vốn bổ sung còn thiếu là 4,5 tỷ đồng, trong đó ngân sách tỉnh 2,8 tỷ đồng.

- Đầu tư phát triển mới từ 15-17 chợ thuộc chủ yếu thuộc các huyện miền Tây với tổng kinh phí xây dựng dự kiến khoảng 54 tỷ đồng, trong đó ngân sách tỉnh hỗ trợ 23,2 tỷ đồng.

III. Các giải pháp chủ yếu

1. Về sản xuất công nghiệp

- Chỉ đạo các cơ sơ sản xuất công nghiệp tập trung phát huy hết năng lực sản xuất (nhất là đá trắng, thiếc, mía đường, bia, chế biến sắn, dứa,...) để đáp ứng thị trường đang có nhu cầu lớn trên cơ sở chủ động về nguyên liệu, đồng thời đảm bảo tiết kiệm nguồn tài nguyên, bảo vệ môi trường sinh thái.

- Chỉ đạo tốt công tác giải phóng mặt bằng và đẩy nhanh tiến độ xây dựng hạ tầng khu công nghiệp, KCN nhỏ, quy hoạch chi tiết Khu kinh tế Đông Nam. Hỗ trợ các nhà đầu tư triển khai đúng tiến độ các dự án đầu tư đã được cấp phép cũng như các dự án đã có chủ trương cho phép đầu tư. Chú trọng công tác bồi thường giải phóng mặt bằng, phối hợp với chính quyền địa phương thực hiện tốt chính sách tái định cư cho các dự án thuỷ điện.

- Tiếp tục mở các lớp bồi dưỡng, tập huấn nghiệp vụ quản lý nhà nước cho cán bộ cấp huyện, phối hợp với các địa phương doanh nghiệp tổ chức các lớp đào tạo nghề, đào tạo vận hành lưới điện, kỹ thuật nổ mìn,...

- Làm việc với các Bộ, ngành Trung ương để kêu các gọi nhà đầu tư trong và ngoài nước đầu tư phát triển các nhóm sản phẩm công nghiệp theo đề án xác định danh mục ngành công nghiệp ưu tiên của tỉnh.

- Tăng cường công tác quản lý nhà nước trong việc thực hiện cơ chế chính sách, quản lý nhà nước về đầu tư, thanh tra, kiểm tra và hỗ trợ doanh nghiệp thông qua chương trình hoạt động của Ban chỉ đạo thực hiện Nghị quyết 06 NQ/TU về phát triển công nghiệp. Kiểm tra các lĩnh vực: an toàn điện, quản lý và sử dụng điện nông thôn, khai thác khoáng sản, thuỷ điện.

2. Về thương mại

1. Xuất khẩu.

- Tiếp tục đẩy mạnh xuất khẩu các mặt hàng chủ lực có thị trường lớn, tốc độ tăng trưởng nhanh như đồ gỗ....Chú trọng tăng nhanh xuất khẩu dịch vụ, xuất khẩu lao động. Phát triển thị trường xuất khẩu, chú trọng thị trường truyền thống.

- Xây dựng cơ chế và phương thức nắm bắt thông tin để kịp thời xử lý, tạo điều kiện động viên, thúc đẩy xuất khẩu của các doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

- Phối hợp với các ngành xây dựng các chính sách khuyến khích xuất khẩu phù hợp với các định chế của WTO như bảo hiểm xuất khẩu, sử dụng 10% giá trị hàng nông sản trợ cấp cho sản xuất hàng nông sản, trong đó chú ý tới các hàng nông sản xuất khẩu...

- Tăng cường và đổi mới phương thức xúc tiến thương mại, gắn công tác xúc tiến thương mại với yêu cầu tăng trưởng xuất khẩu, đẩy mạnh công tác xây dựng thương hiệu đi đôi với việc đề cao chữ “tín” trong thương mại quốc tế. Tăng cường mối liên kết giữa xúc tiến thương mại với xúc tiến đầu tư.

- Tăng cường công tác kiểm tra giám sát chất lượng hàng hóa nhằm củng cố, tăng uy tín và tránh thiệt hại cho hàng xuất khẩu của Nghệ an trên thị trường khu vực và thế giới.

2. Thương mại nội địa:

- Tiếp tục công tác tuyên truyền phổ biến, hướng dẫn thực hiện Luật Thương mại, Luật cạnh tranh và các văn bản quy phạm pháp luật khác phù hợp với thông lệ quốc tế và WTO.

- Quan tâm hơn nữa công tác phát triển thị trường nội địa, phát triển mạnh mạng lưới thu mua và đại lý thu mua, tiêu thụ các loại hàng hoá trong tỉnh nhất là khu vực nông thôn, vùng núi cao, vùng xa. Đặc biệt việc kinh doanh phục vụ hàng chính sách cho đồng bào miền núi.

- Từng bước hoàn thiện cơ chế quản lý ngành hàng và tổ chức hệ thống phân phối theo chức năng của từng ngành; Tăng cường công tác kiểm tra kiểm soát thị trường, chống đầu cơ, buôn lậu, buôn bán hàng giả, hàng kém chất lượng. Lập lại trật tự kỹ cương trong hoạt động kinh doanh từ thành phố, thị xã đến các địa phương trong tỉnh nhất là việc niêm yết giá và bán theo giá niêm yết tại các chợ, siêu thị, trung tâm thương mại. Đặc biệt chú trọng công tác bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và vệ sinh an toàn thực phẩm.

- Phát huy mọi tiềm năng và nguồn lực đồng thời vận dụng các chính sách hỗ trợ ưu đãi và khuyến khích của nhà nước. Tiếp tục thực hiện chương trình phát triển kết cấu hạ tầng thương mại như chợ, cửa hàng xăng dầu, trung tâm thương mại, siêu thị, kho bãi, cửa hàng, đúng định hướng. Thực hiện tốt quy hoạch đã được phê duyệt.

IV. Một số đề xuất kiến nghị với UBND tỉnh

1- Cân đối bố trí vốn từ ngân sách kịp thời để hỗ trợ, đối ứng cho các dự án, đề án đã được UBND tỉnh phê duyệt như: Vốn hỗ trợ cho các KCN nhỏ.

2- Bố trí đủ vốn cho đầu tư phát triển hạ tầng khu kinh tế cửa khẩu và kết cấu hạ tầng thương mại miền núi theo quy hoạch được duyệt nhất là hệ thống chợ miền núi .

3- Giao cho Sở Công Thương tham mưu đề xuất kế hoạch phân bổ ngân sách đầu tư xây dựng chợ miền núi để đảm bảo khách quan và cân đối giữa các địa phương.

4- Uỷ quyền cho Sở Công Thương ký cấp giấy phép hoạt động điện lực.

5- Tiếp tục thực hiện chính sách trợ cước vận chuyển hàng chính sách từ cụm xã về trung tâm xã 03 huyện vung cao Kỳ Sơn, Tương Dương và Quế Phong.

6- Hỗ trợ vốn dữ trữ cho một số doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh thương mại có quy mô lớn thực hiện tốt công tác dự trữ hàng hoá đầy đủ để cung ứng kịp thời trong mùa mưa bão.

7- Tổ chức hội thảo về đầu tư phát triển công nghịêp Nghệ An với các chuyên gia đầu ngành của Trung ương và địa phương nhằm tìm ra các giải pháp phát triển trước mắt và chuẩn bị cho kỳ kế hoạch tới.

***

Năm 2009, năm thứ 4 thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI, trước những thuận lợi và thách thức mới; Ngành Công Thương mong nhận được sự quan tâm chỉ đạo sâu sát của Bộ Công Thương, Tỉnh uỷ, HĐND-UBND Tỉnh; sự phối hợp chặt chẽ của các Sở, Ban, Ngành, UBND thành phố, thị xã, huyện và các doanh nghiệp trên địa bàn.

Với tinh thần chỉ đạo thực hiện kế hoạch năm 2009 theo phương châm “Khẩn trương - Quyết liệt - Sâu sát - Hiệu quả”. Ngành Công Thương Nghệ An quyết tâm thực hiện thắng lợi toàn diện nhiệm vụ được giao, giữ vững nhịp độ tăng trưởng, phát triển sản xuất công nghiệp và họat động thương mại trên địa bàn, tạo đà cho sự phát triển của các năm tiếp theo; góp phần vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực và nhịp độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh Nghệ An; hoàn thành kế hoach 5 năm 2006-2010; sớm đưa Nghệ An thoát khỏi tình trạng nghèo, kém phát triển, chủ động vững bước trong tiến trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới./.

kéo dài như: hạ tầng KCN tập trung, KCN nhỏ, hệ thống chợ nông thôn, trung tâm thương mại,... do nguồn ngân sách hạn hẹp và khả năng huy động vốn đầu tư còn yếu.

Phần thứ II

Kế hoạch phát triển công nghiệp, thương mại năm 2009 và các giải pháp chỉ đạo thực hiện

I. Dự báo những thuận lợi, khó khăn

1. Những thuận lợi cơ bản

- Việt Nam hội nhập sâu rộng với thế giới, thị trường rộng mở, khả năng thu hút vốn đầu tư tiếp tục tăng.

- Nghệ An tiếp tục được Trung ương Đảng, Chính phủ và các Bộ ngành quan tâm giúp đỡ. Kinh tế Nghệ An phát triển trên nhiều lĩnh vực; đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân được nâng lên một bước, rút ngắn khoảng cách tụt hậu về kinh tế so với mức bình quân chung của cả nước.

- Cơ chế chính sách điều hành hoạt động sản xuất Công nghiệp và Thương mại của Chính phủ, Bộ Công Thương và Uỷ ban nhân dân Tỉnh tiếp tục được hoàn thiện sẽ tạo hành lang pháp lý thông thoáng, tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất công nghiệp và kinh doanh thương mại phát triển tích cực .

2. Những khó khăn, thách thức

- Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu tác động tiêu cực đến nền kinh tế cả nước và tỉnh ta, nhất là đầu tư, sản xuất, lưu thông và xuất khẩu hàng hoá.

- Kết cấu hạ tầng kỹ thuật và thương mại tuy đã được cải thiện nhiều song vẫn còn yếu và thiếu đồng bộ, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển, nhất là vùng miền núi, vùng kinh tế trọng điểm.

- Sản phẩm hàng hoá còn nhỏ bé, tính cạnh tranh thấp; Một số dự án đầu tư sản xuất kém hiệu quả, chậm tiến độ đề ra ảnh hưởng đến tăng trưởng chung của tỉnh.

- Tình trạng buôn lậu, gian lận thương mại, kinh doanh hàng giả hàng kém chất lượng, vi phạm về sở hữu công nghiệp, sở hữu trí tuệ trong kinh doanh còn diễn biến phức tạp.

- Đời sống nhân dân trong Tỉnh nhìn chung đã được cải thiện, nhưng vẫn còn ở dưới mức trung bình của cả nước. Sức mua của thị trường nội tỉnh còn hạn chế.

- Khí hậu thời tiết, dịch bệnh diễn biến phức tạp.

II. Mục tiêu, nhiệm vụ và các chỉ tiêu kế hoạch năm 2009

1. Mục tiêu kế hoạch

- Tập trung chỉ đạo hoàn thành các chỉ tiêu kế hoạch của ngành, phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất công nghiệp từ 16,5-17%, tổng mức lưu chuyển hàng hoá và dịch vụ bán lẻ tăng 19,36%, kim ngạch xuất khẩu tăng trên 10,6%.

- Huy động mọi nguồn lực để phát triển những ngành, những sản phẩm có khả năng cạnh tranh của tỉnh để tăng năng lực sản xuất, phát triển các ngành phục vụ CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn, chú trọng những sản phẩm có thế mạnh xuất khẩu như: chế biến đá trắng, chế biến nông lâm-thuỷ-sản, sản xuất VLXD. Phát triển hạ tầng các KCN, KCN nhỏ để thu hút các dự án đầu tư mới. Khuyến khích các làng nghề TTCN phát triển.

- Bảo đảm cung ứng các mặt hàng thiết yếu, không để xẩy ra tình trạng sốt hàng, sốt giá nhằm góp phần bình ổn thị trường, đa dạng hoá các kênh phân phối để điều tiết tổng mức lưu chuyển hàng hoá cho phù hợp. Nâng cao hiệu quả công tác quản lý thị trường và kiểm tra giám sát chất lượng hàng hoá lưu thông để chống hàng giả, hàng lậu, đảm bảo môi trường cạnh tranh công bằng giữa các doanh nghiệp và các thành phần kinh tế.

- Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về công thương. Chủ động, tích cực chủ động xúc tiến thương mại, thu hút vận động đầu tư phát triển công nghiệp. Hoàn thành tốt nhiệm vụ Cơ quan Thường trực các Ban chỉ đạo của tỉnh.

2. Nhiệm vụ trọng tâm

2.1. Công tác quản lý nhà nước

- Quản lý việc triển khai thực hiện các quy hoạch: Quy hoạch phát triển công nghiệp tỉnh Nghệ An đến năm 2020; Quy hoạch thăm dò, khai thác và sử dụng khoáng sản giai đoạn 2007-2015 có tính đến năm 2020; Đề án xác định ngành công nghiệp ưu tiên đến năm 2020 và các giải pháp phát triển. Triển khai xây dựng Quy hoạch phát triển thương mại đến năm 2020.

- Đôn đốc các chủ đầu tư thuỷ điện triển để có giải pháp tháo gỡ khó khăn cho các dự án, kiểm tra thực tế, đôn đốc việc triển khai các công trình thuỷ điện theo Đề án phát triển thuỷ điện tỉnh; Các dự án phát triển công nghiệp đồ uống (Nhà máy Bia Sài Gòn-Sông Lam, Nhà máy Bia Vilaken, Nhà máy sản xuất cồn); nhà máy xi măng Đô Lương giai đoạn I công suất 900.000 tấn/năm, mạng lưới thương mại, phát triển khu kinh tế cửa khẩu,...

- Triển khai đầu tư hệ thống kết cấu hạ tầng thương mại như mạng lưới đại lý thu mua, các trung tâm thương mại hệ thống chợ nông thôn. Hoàn thành xây dựng để đầu năm 2009 đưa vào sử dụng một số chợ miền núi: Đỉnh Sơn (Anh Sơn), Tân An (Tân Kỳ), Thanh Hương (Thanh Chương), Giang Sơn (Đô Lương), Mường Xén (Kỳ Sơn). Tiếp tục kêu gọi tìm kiếm đối tác để đầu tư xây dựng hạ tầng Trung tâm Hội chợ triển lãm Nghệ An và các hạng mục còn lại của chợ đầu mối nông sản.

- Tăng cường công tác quản lý nhà nước trong việc thực hiện cơ chế chính sách, quản lý nhà nước về đầu tư, thanh tra, kiểm tra và hỗ trợ doanh nghiệp thông qua chương trình hoạt động của Ban chỉ đạo thực hiện Nghị quyết 06 NQ/TU về phát triển công nghiệp, Ban chỉ đạo 127/CP. Thường xuyên thanh kiểm tra các đại lý kinh doanh xăng dầu, tiến độ xây dựng chợ nông thôn ở các địa phương. Kiểm tra lĩnh vực an toàn điện, quản lý và sử dụng điện nông thôn, khai thác khoáng sản, vật liệu nổ.

- Thường xuyên kiểm tra giám sát chất lượng hàng hoá lưu thông để chống hàng giả, hàng lậu, đảm bảo môi trường cạnh tranh công bằng cho các doanh nghiệp và giữa các thành phần kinh tế. Đề xuất với UBND tỉnh phương án điều tiết thị trường nhằm đảm bảo cung cấp hàng hoá kịp thời không để xẩy ra tình trạng sốt hàng, sốt giá, góp phần kiềm chế tăng chỉ số giá tiêu dùng.

2.2. Tiếp tục chỉ đạo thực hiện các chương trình, đề án trọng điểm

- Chỉ đạo thực hiện và thường xuyên kiểm tra tiến độ các chương trình, dự án trọng điểm theo Nghị quyết số 01-NQ/TU của Ban chấp hành Tỉnh uỷ: Đề án phát triển KCN nhỏ, phát triển công nghiệp đồ uống, phát triển thuỷ điện, chương trình dệt may, phát triển kinh tế cửa khẩu, mạng lưới thương mại miền Tây,...

- Đánh giá kết quả thực hiện "Chương trình hành động của Nghệ An về thực hiện Nghị quyết hội nghị lần thứ IV của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về một số chủ trương, chính sách lớn để nền kinh tế phát triển mạnh và bền vững khi Việt Nam là thành viên của WTO".

- Triển khai xây xựng kịp thời các đề án: Cấp điện cho các xã chưa có điện trên địa bàn Nghệ An; Bổ sung quy hoạch điện cho Đảo Ngư và các huyện vùng ven biển và Đề án phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp vùng ven biển.

3. Các chỉ tiêu chủ yếu:

Quyết định số 5798/QĐ.UBND ngày 23/12/2008 của Chủ tịch UBND tỉnh Nghệ An về việc thông báo chỉ tiêu kế hoạch kinh tế xã hội năm 2009 như sau:

3.1. Sản xuất công nghiệp

a) Giá trị sản xuất (giá CĐ1994) : 7.823 tỷ đồng.

Trong đó:

+ Doanh nghiệp nhà nước Trung ương: 2.655 tỷ đồng.

+ Doanh nghiệp nhà nước địa phương: 322 tỷ đồng.

+ Doanh nghiệp ngoài nhà nước: 3.961 tỷ đồng.

+ Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài: 885 tỷ đồng.

b) Giá trị tăng thêm (giá CĐ1994) : 2.921 tỷ đồng.

Trong đó:

+ Doanh nghiệp nhà nước Trung ương: 1.005 tỷ đồng.

+ Doanh nghiệp nhà nước địa phương: 119 tỷ đồng.

+ Doanh nghiệp ngoài nhà nước: 342 tỷ đồng.

+ Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài: 885 tỷ đồng, tăng 15,9%.

c) Một số sản phẩm chủ yếu

- Xi măng 1,7 triệu tấn; Gạch quy chuẩn 500 triệu viên; Cột điện ly tâm 18.000 cột; Điện thương phẩm 1.200 triệu Kw; Tinh bột sắn 30.000 tấn; Muối Iốt 15.000 tấn; Bao bì các loại 65 triệu bao; Bia các loại 50 triệu lít; Nước dứa 2.500 tấn; Nước khoáng 2,5 triệu lít; Giấy các loại 14.000 tấn; Cồn1,2 triệu lít; Sản phẩm dệt kim 3,5 triệu chiếc; Sản phẩm may sẵn 6,5 triệu chiếc; Thiếc 2.400 tấn; Sợi các loại 10.000 tấn; Bật lửa ga 75 triệu cái; Đá trắng các loại 400.000 tấn; Than sạch 20.000 tấn; Thịt đông lạnh 800 tấn; Thuỷ hải sản 3.000 tấn; Dầu thực phẩm 28.000 tấn; Nước mắm 30 triệu lít; Đường kính 145.000 tấn; Chè búp khô 8.000 tấn; Bột mỳ 24.000 tấn;…

- Duy trì phát triển hơn 130 làng có nghề, du nhập thêm nghề mới để phấn đấu cuối năm đạt 200 làng có nghề. Trên cơ sở đó, xây dựng thêm từ 15-20 làng đạt tiêu chuẩn để hết năm kế hoạch toàn tỉnh có 75-80 làng nghề được công nhận, tập trung vào các lĩnh vực: Chế biến nông-lâm sản, thuỷ sản, dâu tằm tơ, dệt thổ cẩm, thủ công mỹ nghệ, chế biến khoáng sản, cơ khí, đan móc sợi,...

3.2.Phát triển thương mại

a)Tổng giá trị hàng hoá bán lẻ và dịch vụ : 18.800 tỷ đồng.

Trong đó: Quốc doanh trung ương 2.130 tỷ đồng; Quốc doanh địa phương 2.700 tỷ đồng; Ngoài quốc doanh 13.970 tỷ đồng.

b) Giá trị sản xuất DV thương mại :

- Theo giá thực tế: 3.000 tỷ đồng

Trong đó: Quốc doanh trung ương 310 tỷ đồng; Quốc doanh địa phương 610 tỷ đồng; Ngoài quốc doanh 2.080 tỷ đồng.

- Theo giá cố đinh 1994: 1.950 tỷ đồng

Trong đó: Quốc doanh trung ương 150 tỷ đồng; Quốc doanh địa phương 290 tỷ đồng; Ngoài quốc doanh 1.510 tỷ đồng

c) Giá trị tăng thêm DV thương mại :

- Theo giá thực tế: 1.950 tỷ đồng

Trong đó: Quốc doanh trung ương 240 tỷ đồng; Quốc doanh địa phương 400 tỷ đồng; Ngoài quốc doanh 1.310 tỷ đồng.

- Theo giá cố đinh 1994: 1.400 tỷ đồng

Trong đó: Quốc doanh trung ương110 tỷ đồng; Quốc doanh địa phương 210 tỷ đồng; Ngoài quốc doanh 1.080 tỷ đồng.

d) Kim ngạch xuất khẩu : 260 triệu USD.

Trong đó: Xuất khẩu hàng hoá 150 triệu USD; Dịch vụ thu ngoại tệ 8 triệu USD; Xuất khẩu lao động 102 triệu USD.

e) Một số mặt hàng xuất khẩu chủ yếu : Gạo 10.000 tấn; Lạc nhân 20.000 tấn; Vừng 1.000 tấn; Tinh bột sắn 90.000 tấn; Chè búp khô 7.000 tấn; Cà phê 8.000 tấn; Mủ cao su 8.000 tấn; Nước dứa cô đặc 2.000 tấn, Sản phẩm gỗ tinh chế 6.000m3 ; Gỗ mỹ nghệ 3,5 triệu SP; Gỗ dăm 80.000 tấn; Sản phẩm dệt may 3 triệu SP; Thủy hải sản các loại 2.000 tấn; Quặng các loại 60.000 tấn; Đá trắng 400.000 tấn; Thiếc thỏi 2.000 tấn... .

g) Kim ngạch nhập khẩu 193 triệu USD, tập trung chủ yếu vào các mặt hàng như: phân bón, xe máy, nguyên liệu và máy móc thiết bị phục vụ hoạt động sản xuất.

h) Kế hoạch cung cấp hàng hoá chính sách miền núi như sau:

- Muối I ốt: 8.000 tấn

- Dầu hoả thắp sáng: 95-100 tấn

- Cung ứng đầy đủ giấy vở học sinh và tổ chức thu mua khoảng 4.500 tấn hàng hoá nông sản trên địa bàn các huyện miền núi.

i) Kế hoạch đầu tư phát triển chợ năm 2009 :

- Tiếp tục hoàn thiện 5 công trình chuyển tiếp từ năm 2008 gồm: Chợ cây Chanh, Tân An, Mường Xén, Thanh Hương, Giang Sơn với nguồn vốn bổ sung còn thiếu là 4,5 tỷ đồng, trong đó ngân sách tỉnh 2,8 tỷ đồng.

- Đầu tư phát triển mới từ 15-17 chợ thuộc chủ yếu thuộc các huyện miền Tây với tổng kinh phí xây dựng dự kiến khoảng 54 tỷ đồng, trong đó ngân sách tỉnh hỗ trợ 23,2 tỷ đồng.

III. Các giải pháp chủ yếu

1. Về sản xuất công nghiệp

- Chỉ đạo các cơ sơ sản xuất công nghiệp tập trung phát huy hết năng lực sản xuất (nhất là đá trắng, thiếc, mía đường, bia, chế biến sắn, dứa,...) để đáp ứng thị trường đang có nhu cầu lớn trên cơ sở chủ động về nguyên liệu, đồng thời đảm bảo tiết kiệm nguồn tài nguyên, bảo vệ môi trường sinh thái.

- Chỉ đạo tốt công tác giải phóng mặt bằng và đẩy nhanh tiến độ xây dựng hạ tầng khu công nghiệp, KCN nhỏ, quy hoạch chi tiết Khu kinh tế Đông Nam. Hỗ trợ các nhà đầu tư triển khai đúng tiến độ các dự án đầu tư đã được cấp phép cũng như các dự án đã có chủ trương cho phép đầu tư. Chú trọng công tác bồi thường giải phóng mặt bằng, phối hợp với chính quyền địa phương thực hiện tốt chính sách tái định cư cho các dự án thuỷ điện.

- Tiếp tục mở các lớp bồi dưỡng, tập huấn nghiệp vụ quản lý nhà nước cho cán bộ cấp huyện, phối hợp với các địa phương doanh nghiệp tổ chức các lớp đào tạo nghề, đào tạo vận hành lưới điện, kỹ thuật nổ mìn,...

- Làm việc với các Bộ, ngành Trung ương để kêu các gọi nhà đầu tư trong và ngoài nước đầu tư phát triển các nhóm sản phẩm công nghiệp theo đề án xác định danh mục ngành công nghiệp ưu tiên của tỉnh.

- Tăng cường công tác quản lý nhà nước trong việc thực hiện cơ chế chính sách, quản lý nhà nước về đầu tư, thanh tra, kiểm tra và hỗ trợ doanh nghiệp thông qua chương trình hoạt động của Ban chỉ đạo thực hiện Nghị quyết 06 NQ/TU về phát triển công nghiệp. Kiểm tra các lĩnh vực: an toàn điện, quản lý và sử dụng điện nông thôn, khai thác khoáng sản, thuỷ điện.

2. Về thương mại

1. Xuất khẩu.

- Tiếp tục đẩy mạnh xuất khẩu các mặt hàng chủ lực có thị trường lớn, tốc độ tăng trưởng nhanh như đồ gỗ....Chú trọng tăng nhanh xuất khẩu dịch vụ, xuất khẩu lao động. Phát triển thị trường xuất khẩu, chú trọng thị trường truyền thống.

- Xây dựng cơ chế và phương thức nắm bắt thông tin để kịp thời xử lý, tạo điều kiện động viên, thúc đẩy xuất khẩu của các doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

- Phối hợp với các ngành xây dựng các chính sách khuyến khích xuất khẩu phù hợp với các định chế của WTO như bảo hiểm xuất khẩu, sử dụng 10% giá trị hàng nông sản trợ cấp cho sản xuất hàng nông sản, trong đó chú ý tới các hàng nông sản xuất khẩu...

- Tăng cường và đổi mới phương thức xúc tiến thương mại, gắn công tác xúc tiến thương mại với yêu cầu tăng trưởng xuất khẩu, đẩy mạnh công tác xây dựng thương hiệu đi đôi với việc đề cao chữ “tín” trong thương mại quốc tế. Tăng cường mối liên kết giữa xúc tiến thương mại với xúc tiến đầu tư.

- Tăng cường công tác kiểm tra giám sát chất lượng hàng hóa nhằm củng cố, tăng uy tín và tránh thiệt hại cho hàng xuất khẩu của Nghệ an trên thị trường khu vực và thế giới.

2. Thương mại nội địa:

- Tiếp tục công tác tuyên truyền phổ biến, hướng dẫn thực hiện Luật Thương mại, Luật cạnh tranh và các văn bản quy phạm pháp luật khác phù hợp với thông lệ quốc tế và WTO.

- Quan tâm hơn nữa công tác phát triển thị trường nội địa, phát triển mạnh mạng lưới thu mua và đại lý thu mua, tiêu thụ các loại hàng hoá trong tỉnh nhất là khu vực nông thôn, vùng núi cao, vùng xa. Đặc biệt việc kinh doanh phục vụ hàng chính sách cho đồng bào miền núi.

- Từng bước hoàn thiện cơ chế quản lý ngành hàng và tổ chức hệ thống phân phối theo chức năng của từng ngành; Tăng cường công tác kiểm tra kiểm soát thị trường, chống đầu cơ, buôn lậu, buôn bán hàng giả, hàng kém chất lượng. Lập lại trật tự kỹ cương trong hoạt động kinh doanh từ thành phố, thị xã đến các địa phương trong tỉnh nhất là việc niêm yết giá và bán theo giá niêm yết tại các chợ, siêu thị, trung tâm thương mại. Đặc biệt chú trọng công tác bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và vệ sinh an toàn thực phẩm.

- Phát huy mọi tiềm năng và nguồn lực đồng thời vận dụng các chính sách hỗ trợ ưu đãi và khuyến khích của nhà nước. Tiếp tục thực hiện chương trình phát triển kết cấu hạ tầng thương mại như chợ, cửa hàng xăng dầu, trung tâm thương mại, siêu thị, kho bãi, cửa hàng, đúng định hướng. Thực hiện tốt quy hoạch đã được phê duyệt.

IV. Một số đề xuất kiến nghị với UBND tỉnh

1- Cân đối bố trí vốn từ ngân sách kịp thời để hỗ trợ, đối ứng cho các dự án, đề án đã được UBND tỉnh phê duyệt như: Vốn hỗ trợ cho các KCN nhỏ.

2- Bố trí đủ vốn cho đầu tư phát triển hạ tầng khu kinh tế cửa khẩu và kết cấu hạ tầng thương mại miền núi theo quy hoạch được duyệt nhất là hệ thống chợ miền núi .

3- Giao cho Sở Công Thương tham mưu đề xuất kế hoạch phân bổ ngân sách đầu tư xây dựng chợ miền núi để đảm bảo khách quan và cân đối giữa các địa phương.

4- Uỷ quyền cho Sở Công Thương ký cấp giấy phép hoạt động điện lực.

5- Tiếp tục thực hiện chính sách trợ cước vận chuyển hàng chính sách từ cụm xã về trung tâm xã 03 huyện vung cao Kỳ Sơn, Tương Dương và Quế Phong.

6- Hỗ trợ vốn dữ trữ cho một số doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh thương mại có quy mô lớn thực hiện tốt công tác dự trữ hàng hoá đầy đủ để cung ứng kịp thời trong mùa mưa bão.

7- Tổ chức hội thảo về đầu tư phát triển công nghịêp Nghệ An với các chuyên gia đầu ngành của Trung ương và địa phương nhằm tìm ra các giải pháp phát triển trước mắt và chuẩn bị cho kỳ kế hoạch tới.

***

Năm 2009, năm thứ 4 thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI, trước những thuận lợi và thách thức mới; Ngành Công Thương mong nhận được sự quan tâm chỉ đạo sâu sát của Bộ Công Thương, Tỉnh uỷ, HĐND-UBND Tỉnh; sự phối hợp chặt chẽ của các Sở, Ban, Ngành, UBND thành phố, thị xã, huyện và các doanh nghiệp trên địa bàn.

Với tinh thần chỉ đạo thực hiện kế hoạch năm 2009 theo phương châm “Khẩn trương - Quyết liệt - Sâu sát - Hiệu quả”. Ngành Công Thương Nghệ An quyết tâm thực hiện thắng lợi toàn diện nhiệm vụ được giao, giữ vững nhịp độ tăng trưởng, phát triển sản xuất công nghiệp và họat động thương mại trên địa bàn, tạo đà cho sự phát triển của các năm tiếp theo; góp phần vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực và nhịp độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh Nghệ An; hoàn thành kế hoach 5 năm 2006-2010; sớm đưa Nghệ An thoát khỏi tình trạng nghèo, kém phát triển, chủ động vững bước trong tiến trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới./.

Sở Công thương nghệ an

Cơ quan chủ quản: Sở Công Thương  Nghệ An
GP Số 10/GP-BC Cục Báo chí - Bộ TT & TT cấp ngày 10/1/2008
Cơ quan thực hiện: Trung Tâm Xúc Tiến Thương Mại Nghệ An
Chịu trách nhiệm chính : Ô. Nguyễn Trọng Hùng - G.đ.Trung tâm
Địa chỉ liên hệ : 70 Nguyễn Thị Minh Khai- Tp Vinh. Nghệ An
Bản quyền:Trung tâm Xúc tiến Thương mại Nghệ An (NTPC)
Tel : 84.38 3596628 Fax : 84.38.3596638
Phiên bản nâng cấp, sửa đổi năm 2009