Sở giao dịch hàng hóa (3/28/2008 9:26:40 PM)
ĐIỀU KIỆN XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN SỞ
GIAO DỊCH HÀNG HÓA TẠI VIỆT NAM
Sở
giao dịch hàng hóa (Commodity Exchange) là một loại thị trường đặc biệt được
hình thành và phát triển đã từ lâu ở những nước có nền kinh tế thị trường. Ở Mỹ
thị trường loại này đã hình thành tại Chicago vào năm 1848. Sở giao dịch hàng
hóa ngày nay đã phát huy được những thế mạnh trong nền kinh tế của các nước
phát triển và đang phát triển.
Ở
Việt nam, khái niệm thị trường sở giao dịch hàng hóa vẫn còn quá mới mẻ. Luật
Thương mại năm 1997 không quy định về Sở giao dịch hàng hóa, nhưng trong Dự
thảo Luật Thương mại sửa đổi (lần thứ 8) trong chương II mục 3 đã có quy định
về vấn đề này. Về mặt pháp lý những quy định trong Dự thảo Luật Thương mại sửa
đổi, nếu được thông qua, sẽ là cơ sở quan trọng để hình thành và phát triển sở
giao dịch hàng hóa trong tương lai gần. Tuy nhiên, trong thực tế vấn đề xây
dựng và phát triển thị trường hàng hóa này đã và đang đặt ra một cách bức xúc
trong thời gian gần đây. Vậy Sở giao dịch là gì? Phải cần các điều kiện gì để
xây dựng, phát triển thành công thị trường sở giao dịch hàng hóa ở Việt nam?
Bài viết này sẽ cố gắng làm rõ các câu hỏi đó.
1.
Khái niệm về thị trường Sở giao dịch hàng hóa.
Thị
trường Sở giao dịch hàng hóa là thị trường ở đó người ta buôn bán, trao đổi với
nhau không phải là hàng hóa, sản phẩm trực tiếp giao ngay mà là thông qua các
hợp đồng cam kết mua bán, còn việc giao hàng và nhận tiền sẽ được thực hiện
trong tương lai. Trong Điều 66 khoản 1, Mục 3, Chương II Dự thảo Luật Thương
mại Việt nam sửa đổi (bản sửa lần thứ 8) đã định nghĩa: “Mua bán qua sở
giao dịch hàng hóa là hoạt động thương mại theo đó người mua và người bán thỏa
thuận thực hiện việc mua bán một lượng nhất định của một loại hàng hóa nhất
định qua Sở giao dịch, theo những tiêu chuẩn của Sở giao dịch với giá thỏa
thuận tại thời điểm giao kết hợp đồng và thời gian giao hàng được xác định tại
một thời điểm trong tương lai”.
Từ
khái niệm nêu trên, có thể thấy việc mua bán ở Sở giao dịch có những đặc điểm
chủ yếu ban đầu như: Hàng hóa mua bán ở sở giao dịch là những hàng hóa có
cung cầu lớn và thường xuyên biến động; Mua bán ở sở giao dịch được thực hiện
qua sở giao dịch với ý nghĩa là người trung gian; Mua bán được thực hiện theo
các tiêu chuẩn do Sở giao dịch quy định, các tiêu chuẩn về loại hàng, lượng
hàng, phẩm chất hàng hóa, giá cả, thời hạn giao hàng...;Mục đích mua bán ở Sở
giao dịch chủ yếu là nhằm kiếm lợi nhuận do chênh lệch giá giữa lúc ký kết và
lúc giao hàng.
2.
Những điểm khác biệt của việc mua bán ở Sở giao dịch hàng hóa.
Nghiên
cứu bước đầu việc mua bán ở Sở giao dịch hàng hóa có thể thấy hoạt động mua bán
ở thị trường này có những đặc điểm khác biệt so với mua bán truyền thống. Những
điểm khác biệt đó là:
2.1
Hoạt động mua bán tại Sở giao dịch mang tính đầu cơ nhằm mục đích sinh lợi.
Đây là hoạt động chủ yếu của Sở giao dịch, một hoạt động thể hiện sự đầu cơ giá
cả. Để đảm bảo hoạt động mua bán này có lãi người ta thực hiện việc mua bán
song hành. Ngày nay người ta đã liệt kê được 4 loại mua bán song hành tại Sở
giao dịch hàng hóa, đó là:
-
Mua bán song hành trong tháng.
-
Mua bán song hành giữa các thị trường.
-
Mua bán song hành trong một hàng hóa.
-
Mua bán song hành giữa các sản phẩm của hàng hóa.
Ví
dụ một công ty A dự đoán giá lúa mỳ lên và đã mua một hợp đồng với kỳ hạn tháng
3/2005 ở London FOX, giá 350 USD/tấn.
Đồng
thời lại dự đoán giá lúa mỳ sẽ xuống ở thị trường Mỹ và đã bán tại CBOT
(Chicago Board of Trade) loại hàng này bằng cách ký một hợp đồng kỳ hạn 3/2005
với giá 380 USD/tấn.
Đến
tháng 28/2/2005 giá lúa mỳ trên thế giới tăng và công ty A đã thanh lý hợp đồng
bằng cách bán hợp đồng kỳ hạn tháng 3/2005 với giá 380 USD/tấn ở London FOX,
đồng thời mua tại CBOT với giá 382 USD/Tấn. Trong thương vụ mua bán song hành
này công ty A sẽ có lãi, vì: Tại London FOX lãi là 380 - 350 = 30USD
CBOT
lỗ: 382-380 = 2USD
Cả hai nghiệp vụ công ty A lãi:
(380 – 350) + (382-380) = 28 USD/tấn.
2.2
Mua bán tại Sở giao dịch hàng hóa cho phép các bên tự phòng ngừa rủi ro bằng
những hợp đồng kỳ hạn tại Sở giao dịch hàng hóa.
Cơ
sở của việc mua bán là sự chênh lệch giá cả giữa các hợp đồng kỳ hạn và hợp
đồng giao ngay. Bản chất của nghiệp vụ tự bảo hiểm là hoạt động đầu cơ để tránh
các rủi ro trong kinh doanh. Để thấy tác động tích cực của giao dịch kỳ hạn đối
với giao dịch giao ngay chúng tôi xin nêu một ví dụ sau:
Giả
sử một công ty X bán 5000 tấn cà phê vào 2/2005 với giá 600 USD/tấn, giao hàng
tháng 6/2005. Sau đó công ty X nhận được nguồn thông tin đủ để dự đoán đến
tháng 6/2005 giá cà phê trên thị trường thế giới sẽ tăng. Để tránh thiệt hại
công ty sẽ vào Sở giao dịch CBOT mua 100 hợp đồng kỳ hạn (50tấn/ hợp đồng), với
giá 580USD/tấn, giao tháng 6/2005. Đến tháng 6/2005 giá cà phê trên thị trường
thế giới tăng 610 USD/tấn, khi đó công ty sẽ bị thiệt trong hợp đồng bán hàng
nhưng lại được lợi trong hợp đồng kỳ hạn ở CBOT và cuối cùng công ty này vẫn
được một khoản lợi là: (610-600) + (610 - 580) = 20USD/tấn.
Ví
dụ này cho thấy công ty X đã tự phòng ngừa rủi ro bằng chính các hợp đồng kỳ
hạn mà bản thân công ty đã ký với Sở giao dịch hàng hóa. Những hợp đồng kỳ hạn
này là “giá đỡ” cho công ty trong trường hợp hợp đồng bán hàng đã ký trước đây
có nguy cơ bị lỗ.
Để
làm được điều này, phải đảm bảo có đủ có 2 yếu tố: Thứ nhât là phải dự đoán chính
xác sự biến động giá cả của mặt hàng có liên quan; Thứ hai là phải đến Sở giao
dịch hàng hóa để ký kết các hợp đồng kỳ hạn.
2.3
Sở giao dịch là nơi diễn ra các hoạt động mua bán, nên đã phản ánh sự biến động
quan hệ cung cầu, sự thay đổi giá cả trên thị trường.
Các
thông tin từ thị trường này được các nhà kinh doanh dùng để tham khảo khi giao
dịch, ký kết hợp đồng. Với các thông tin về giá cả, quan hệ cung cầu là các yếu
tố chính xác nên người tiêu dùng, người sản xuất sẽ có được các quyết định đúng
hơn về hàng hóa được tiêu thụ, được sản xuất, cách sản xuất trong giai đoạn
hiện tại so với tương lai. Nói một cách khác, Sở giao dịch hàng hóa đã phản ánh
được sự biến động của nền kinh tế và góp phần ổn định giá cả, giúp cho các nhà
sản xuất kinh doanh khi ra các quyết định đầu tư dưới hình thức giao kết các
hợp đồng kỳ hạn.
3.
Điều kiện để xây dựng và phát triển thành công Sở giao dịch hàng hóa ở Việt
nam.
Sở
giao dịch hàng hóa, khi mới ra đời là sản phẩm của một nền nông nghiệp, nó được
thành lập tại Mỹ vào đầu thế kỷ XIX nhằm tiêu thụ các nông sản. Ngày nay Sở
giao dịch hàng hóa đã xuất hiện ở rất nhiều nước trên thế giới. Nghiên cứu kinh
nghiện xây dựng và phát triển Sở giao dịch ở một số nước trên thế giới, có thể
thấy ở Việt nam hoàn toàn có đủ điều kiện để xây dựng và phát triển thành công
loại thị trường đặc thù này.
3.1
Phải có sự tăng trưởng về kinh tế, đặc biệt là tăng kim ngạch xuất khẩu hàng
nông sản.
-
Xuất khẩu của Việt nam tăng đều qua các năm, năm 2005 dự kiến sẽ tăng gấp 2 lần
kim ngạch xuất khẩu của năm 2000 (xem bảng 1). Đây là dấu hiệu cho thấy tiềm
lực kinh tế của Việt nam sẽ đảm bảo cho sự sống còn của Sở giao dịch hàng hóa
trong tương lai.
Bảng 1: Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa
của Việt nam 2000-2005:
Đơn vị: Triệu USD
|
2000 |
2001 |
2002 |
2003 |
2004 |
KH
2005 |
|
14,455 |
15,027 |
16,706 |
20,176 |
26,003 |
30,502 |
(Nguồn Bộ Thương mại, Vụ KHĐT/Giaoban/T12-2004)
-
Việt nam là một nước nông nghiệp và sản phẩm nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn
trong kim ngạch xuất khẩu hàng năm (xem bảng 2).
-
Bảng 2: Giá trị sản xuất nông nghiệp
và Xuất khẩu nông sản
qua các năm
|
|
2000 |
2001 |
2002 |
2003 |
|
Giá
trị sản xuất nông nghiệp (Tỷ đồng) |
112
111,7 |
114
989,5 |
122
150,0 |
127
110,6 |
|
Kim
ngạch XK nông sản (triệu USD) |
2
563,4 |
2
421,3 |
2
396,6 |
|
(Nguồn: http/www.gso.gov.vn)
Số
liệu ở 2 bảng trên cho thấy, hàng nông sản xuất khẩu hàng năm chiếm vào khoảng
30% giá trị sản xuất nông nghiệp. Điều này chứng tỏ lượng hàng tham gia vào Sở
giao dịch hàng hóa sẽ rất phong phú. Trong số các hàng hóa nông sản xuất khẩu
thì một số mặt hàng có kim ngạch lớn và chiếm vị trí cao trong trên thị trường
quốc tế, như gạo, cà phê... Sản xuất nông nghiệp tiếp tục duy trì tốc độ phát
triển khá và ổn định. Một số mặt hàng nông sản có có tốc độ tăng kim ngạch xuất
khẩu cao, như hạt điều: 49,5%; hạt tiêu: 42,9%, cà phê: 20,9%; cao su: 14,2%, Chè
các loại: 62,1%...{6,14-15}. Riêng 2 tháng đầu năm 2005 kim ngạch xuất
khẩu các mặt hàng nói trên đã có mức tăng vượt trội so với thời gian cùng kỳ
năm 2004 (xem bảng 3).
Bảng 3: Xuất khẩu một số mặt hàng
nông sản
trong 2 tháng đầu năm 2005
Đơn vị: 1000 tấn và triệu USD
|
|
1/2005 |
2/2005 |
1+2/2005 |
2
tháng đầu 2005 so với 2 tháng đầu năm 2004 |
||||
|
Lượng |
Trị giá |
Lượng |
Trị giá |
Lượng |
Trị giá |
Lượng |
Trị giá |
|
|
Gạo |
197,0 |
49,0 |
285,0 |
74,0 |
482,0 |
123,0 |
118,2 |
137,0 |
|
Cà phê |
97,0 |
65,0 |
75,0 |
50,0 |
172,0 |
115,0 |
94,8 |
95,8 |
|
Rau |
|
20,0 |
|
15,0 |
|
35,0 |
|
173,6 |
|
Cao su |
28,0 |
32,0 |
25,0 |
28,0 |
53,0 |
60,0 |
104,0 |
108,8 |
|
Hạt tiêu |
4,0 |
6,0 |
6,0 |
8,0 |
10,0 |
14,0 |
98,1 |
110,0 |
|
Hạt điều |
6,0 |
30,0 |
5,0 |
25,0 |
12,0 |
55,0 |
15,2 |
200,4 |
|
Chè |
5,7 |
6,2 |
5,0 |
4,7 |
10,7 |
10,9 |
133 |
156,0 |
|
Lạc |
0,5 |
0,2 |
1,0 |
0,5 |
1,5 |
0,8 |
20,5 |
19,9 |
(Nguồn: http/www.gso.gov.vn)
-
Phải có số lượng lớn các bên tham gia thị trường. Ở Việt nam, trong giai đoạn
hiện nay với dân số hơn 82 triệu người, trong đó 80% dân số sống ở nông thôn.
Sản phẩm trong nông nghiệp được sản xuất không tập trung, với số lượng nhỏ, nên
số lượng người có nhu cầu tham gia giao dịch trên thị trường là rất lớn. Một
đặc tính của sản xuất nông nghiệp là mang tính thời vụ, cho nên tình trạng cung
vượt quá cầu vào thời kỳ thu hoạch đã dẫn tới giá cả sụt giảm mạnh trên thị
trường tiêu thụ. Để tránh các rủi ro người sản xuất có thể bán sản phẩm của
mình trước khi vận chuyển đến thị trường kể cả giá có thể thấp hơn so với giá
dự kiến khi được đưa đến thị trường tiêu thụ. Cho nên, thay vì đưa hàng đến thị
trường để tiêu thụ, người sản xuất sẽ thỏa thuận với người mua để “bán trước”
nông sản của mình. Người bán và người mua sẽ thỏa thuận với nhau về việc mua
bán, giao hàng và nhận tiền trong tương lai. Điều này sẽ làm cho Sở giao dịch
hàng hóa ra đời và phát triển. Mặt khác, những người sản xuất nông nghiệp Việt
nam không có ai có đủ khả năng điều tiết thị trường hàng nông sản, vì vậy cần
thiết phải có một trung tâm giao dịch đủ mạnh để góp phần chắp nối thành công
giữa người sản xuất với người tiêu dùng và giữa những người sản xuất với nhau.
Thực tiễn đã được minh chứng tại một số hoạt động của trung tâm giao dịch hàng
nông sản ở Miền nam trong thời gian qua.
-
Nhiều mặt hàng nông sản của Việt nam hiện được xuất khẩu đi nhiều nước trên thế
giới với số lượng lớn, như gạo, cà phê, hạt điều, hạt tiêu...và có chất lượng
cao, được các thị trường nhập khẩu chấp nhận. Những mặt hàng này của Việt nam
cũng là các đối tượng giao dịch tại Sở giao dịch hàng hóa của các nước trên thế
giới. Điều này đồng nghĩa với việc sẽ có nhiều nhà đầu tư nước ngoài tham gia
vào thị trường Sở giao dịch của Việt nam trong tương lai.
-
Việt nam hiện đang tích cực, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, vì vậy Sở giao
dịch hàng hóa ra đời sẽ góp phần không nhỏ vào việc mở rộng quan hệ kinh tế
thương mại. Chúng ta đang dần dần chuyển từ nền kinh tế tự cung tự cấp sang nền
kinh tế thị trường. Đây sẽ là một trong những điều kiện căn bản để tồn tại và
phát triển Sở giao dịch hàng hóa trong tương lai không xa.
3.2
Phải có môi trường pháp lý phù hợp.
Sở
giao dịch hàng hóa mới chỉ được quy định tại Dự thảo Luật Thương mại Việt nam
sửa đổi, cho đến nay những quy định đó vẫn chưa có giá trị. Và ngay cả khi Dự
thảo Luật Thương mại sửa đổi được Quốc hội thông qua, Sở giao dịch hàng hoá
cũng khó hoạt động nếu không có các văn bản dưới luật hướng dẫn rõ ràng, cụ
thể. Vì vậy, ngay sau khi Luật Thương mại mới có hiệu lực, cần phải ban hành
các Nghị định, thông tư, chỉ thị với những hướng dẫn cụ thể để loại thị trường
mới mẻ này có thể sống được tại Việt nam. Những vấn đề cơ bản sau đây hiện còn
chưa đầy đủ, chưa rõ ràng trong các văn bản pháp quy của Việt nam và cần phải
được đưa vào những khung pháp lý nhất định:
+
Các tiêu chuẩn về hợp đồng kỳ hạn.
+
Tiêu chuẩn về chất lượng, số lượng, thời hạn giao hàng...
+
Các quy định quản lý và hoạt động của Sở giao dịch hàng hóa...
3.3
Phải có đội ngũ chuyên sâu về thị trường Sở giao dịch hàng hóa.
Để
có được đội ngũ này, cần nhanh chóng đào tạo các nhà môi giới, các nhà kinh
doanh, nhân viên giao dịch ở Sở giao dịch hàng hóa. Đây là một đòi hỏi cấp
thiết bởi vì đại đa số người dân Việt nam còn chưa hiểu về Sở giao dịch thì nói
gì đến việc mua bán ở Sở giao dịch. Mặt khác, trên thị trường người mua, người
bán không có khả năng gặp gỡ trực tiếp với nhau để giao dịch ký kết hợp đồng
nên họ phải đến Sở giao dịch để mua bán mua bán thông qua trung gian. Vì vậy,
trung gian môi giới, nhân viên giao dịch của Sở giao dịch hàng hóa phải được
đào tạo thật bài bản về quy trình nghiệp vụ giao dịch, các kiến thức về luật
pháp... Việc đào tạo có thể linh hoạt bằng các khóa đào tạo trong hoặc ngoài
nước, dài hạn hay ngắn hạn dưới sự trợ giúp của các chuyên gia có kinh nghiệm
của nước ngoài hay các tổ chức tài chính quốc tế.
3.4
Các điều kiện khác.
-
Thực hiện và quản lý thật chặt chẽ chất lượng hàng hóa là một trong những điều
kiện để Sở giao dịch hàng hóa hoạt động có hiệu quả;
-
Tích cực phát triển cơ sở hạ tầng cho ngành bưu chính viễn thông để đủ sức đáp
ứng các yêu cầu về thông tin của người tham gia thị trường Sở giao dịch hàng
hóa;
-
Cho phép các nhà kinh doanh giao dịch nước ngoài được tham gia vào Sở giao dịch
hàng hóa của Việt nam. Có như vậy Sở giao dịch hàng hóa Việt nam mới hoạt động
có hiệu quả, phát huy được vai trò tích cực đối với nền kinh tế.
Trên
đây là một số suy nghĩ bước đầu về Sở giao dịch hàng hóa và những điều kiện để
Sở giao dịch hàng hóa có thể hình thành và phát triển ở Việt nam. Chúng tôi hy
vọng và sẵn sàng trao đổi với các độc giả về vấn đề này trong thời gian tới với
sự mong muốn loại hình thị trường đặc thù này sẽ sớm hình thành và phát triển ở
Việt nam.
TS.
Phạm Duy Liên- ĐH ngoại Thương
80% hàng công nghiệp Mỹ xuất khẩu sang Hàn Quốc được miễn thuế
Xuất khẩu sẽ được lợi từ FTA Việt Nam - EU
Bộ quy tắc INCOTERMS 2010
Xung đột pháp luật trong hợp đồng thương mại quốc tế
Đàm phán hợp đồng thương mại quốc tế
Giải quyết tranh chấp trong hợp đồng mua bán hang hóa quốc tế
Những lợi ích của việc các nước công nhận Việt Nam là nền kinh tế thị trường
Kinh doanh đa cấp
|
Cq chủ quản: Sở Công Thương Nghệ An Thực hiện: Trung Tâm Xúc Tiến Thương Mại N An Đc: 70 Nguyễn Thị Minh Khai, Vinh, Nghệ An Tel: 038.3596628, Fax: 038.3596638, Email: ntpcnghean@hn.vnn.vn |
GP Số:113/GP-TTĐT Cục Phát thanh Truyền hình và TTĐT cấp ngày 09/6/2011. Chịu trách nhiệm chính : Ô. Nguyễn Trọng Hùng, Giám đốc Trung tâm Bản quyền:Trung tâm Xúc tiến Thương mại Nghệ An Nghe An Trade Promotion Centre (NTPC) |