Tìm hiểu các thuật ngữ INCOTERM 2000 (3/28/2008 9:18:19 PM)
CFR: Tiền hàng và cước
phí (...cảng đến qui định)
Theo điều kiện CFR (viết tắt của thuật ngữ Tiếng Anh “COST
AND FREIGHT” dịch ra Tiếng Việt là “Tiền hàng và cước phí”) th́ người bán giao
hàng khi hàng hoá đă qua lan can tàu tại cảng gửi hàng.
Người
bán phải thanh toán các phí tổn và cước phí vận tải cần thiết để đưa hàng tới
cảng đến qui định, NHƯNG rủi ro mất mát hoặc hư hại đối với hàng hoá cũng như
mọi chi phí phát sinh thêm do các t́nh huống xảy ra sau thời điểm giao hàng
được chuyển từ người bán sang người mua.
Điều
kiện CFR yêu cầu người bán làm thủ tục thông quan xuất khẩu cho hàng hoá.
Điều
kiện này chỉ có thể sử dụng cho vận tải đường biển hoặc đường thuỷ nội địa. Nếu
các bên không có ư đinh giao hàng qua lan can tàu th́ nên sử dụng điều kiện
CPT.
CPT: Cước phí trả tới đích
(…nơi
đến qui định)
Theo
điều kiện CPT (từ viết tắt của thuật ngữ Tiếng Anh “CARRIAGE PAID TO” dịch ra
Tiếng Việt là “Cước phí trả tới đích”) th́ người bán giao hàng cho người chuyên
chở do chính người bán chỉ định, nhưng ngoài ra người bán phải trả các chi phí
cần thiết để đưa hàng tới điểm đến qui định. Điều này có nghĩa là người mua
phải chịu mọi rủi ro và chi phí phát sinh khác sau khi hàng đă được giao như
trên.
“Người
chuyên chở” là bất kỳ người nào mà theo hợp đồng vận tải, cam kết tự ḿnh thực
hiện hoặc đảm nhận việc chuyên chở bằng đường sắt, đường bộ, đường hàng không,
đường biển, đường thuỷ nội địa hoặc kết hợp các phương thức vận tải đó.
Nếu
có những người chuyên chở kế tiếp đươc sử dụng dể vận chuyển hàng hoá đến nơi
đến thoả thuận, th́ rủi ro chuuyển giao khi hàng hoá được giao cho người chuyên
chở đầu tiên.
Điều
kiện CPT yêu cầu người bán làm thủ tục thông quan xuất khẩu hàng hoá.
Điều
kiện này có thể được sử dụng cho bất kỳ phương tiện vận tải nào kể cả vận tải
đa phương thức.
CIF: Tiền hàng, phí bảo hiểm và tiền cước
(...
cảng đến qui định)
Theo
điều kiện CIF (từ viết tắt của thuật ngữ Tiếng Anh “COST, INSURANCE AND
FREIGHT” dịch ra Tiếng Việt là “ Tiền hàng, phí bảo hiểm và tiền cước” ) th́
người bán giao hàng khi hàng hoá đă qua lan can tàu tại cảng gửi hàng.
Người
bán phải trả các phí tổn và cước phí vận tải cần thiết để đưa hàng tới cảng đến
qui định, NHƯNG rủi ro về mất mát và hư hại đối với hàng hoá, cũng như bất kỳ
chi phí nào phát sinh thêm do các t́nh huống xảy ra sau thời điểm giao hàng,
được chuyển từ người bán sang ngựi mua. Tuy nhiên, theo điều kiện CIF người
bán c̣n phải mua bảo hiểm hàng hải để bảo vệ cho người mua trước những rủi ro
về mất mát hoặc hư hại đối với hàng hoá trong quá tŕnh chuyên chở.
Do
vậy người bán sẽ kư hợp đồng bảo hiểm và trả phí bảo hiểm. Người mua cần lưu ư
rằng theo điều kiện CIF người bán chỉ phải mua bảo hiểm ở mức tối thiểu. Nếu
người mua muốn được bảo hiểm với phạm vi lớn hơn th́ người mua cần thoả thuận
rơ ràng với người bán hoặc tự ḿnh mua bảo hiểm thêm.
Điều
kiện CIF yêu cầu người bán phải làm thủ tục thông quan xuất khẩu cho hàng hoá.
Điều
kiện này chỉ có thể sử dụng cho vận tải đường biển và đường thuỷ nội địa. Nếu
các bên không có ư định giao hàng qua lan can tàu th́ nên sử dụng điều kiện
CIP.
CIP: Cước phí và bảo hiểm trả tới đích
(
...nơi đến qui định)
Theo
điều kiện CIP (viết tắt của thuật ngữ Tiếng Anh “CARRIAGE AND INSURANCE PAID
TO’’ dịch ra Tiếng Việt là “Cước phí và bảo hiểm trả tới đích”) th́ người bán
giao hàng cho người vận chuyển được chỉ định (do người bán chỉ định), nhưng
ngoài ra người bán c̣n phải trả các chi phí vận tải cần thiết để đưa hàng hoá
tới nơi đến qui định. Điều này có nghĩa là người mua chịu mọi rủi ro và phí tổn
phát sinh thêm sau khi hàng hoá đă được giao như trên (khi đă giao cho người
chuyên chở). Tuy nhiên theo điều kiện CIP người bán c̣n phải mua bảo hiểm để
bảo vệ người mua trước những rủi ro mất mát hay hư hại đối với hàng hoá trong
quá tŕnh vận chuyển.
Do
vậy, người bán kư hợp đồng bảo hiểm và trả phí bảo hiểm.
Người
mua cần lưu ư rằng theo điều kiện CIP người bán chỉ phải mua bảo hiểm ở mức tối
thiểu. Nếu người mua muốn được bảo hiểm ở mức lớn hơn th́ người mua cần thoả
thuận rơ ràng với người bán hoặc tự ḿnh mua bảo hiểm thêm.
“Người
vận chuyển” là bất kỳ người nào, mà theo hợp đồng vận tải cam kết tự ḿmh thực
hiện hoặc đảm nhận việc chuyên chở bằng đường sắt, đường bộ, đường hàng không,
đường biển và đường thuỷ nội địa hoặc kết hợp các phương thức vận tải đó.
Nếu
có những người chuyên chở kế tiếp được sử dụng để chuyên chở hàng hoá tới nơi
đến thoả thuận th́ rủi ro chuyển giao khi hàng hoá được giao cho người chuyên
chở đầu tiên.
Điều
kiện CIP yêu cầu người bán làm thủ tục thông quan xuất khẩu cho hàng hoá.
Điều
kiện này có thể được sử dụng cho mọi phương tiện vận tải, kể cả vận tải đa
phương thức.
* THE TERMS: CÁC ĐIỀU KIỆN
Điều
kiện “C” yêu cầu người bán kư hợp đồng vận tải theo các điều kiện thông thường
và chịu các phí tổn. Do đó cần phải nêu rơ địa điểm mà người bán sẽ phải trả
các phí tổn chuyên chở tới đó theo điều kiện “C” tương ứng. Theo điều CIF và
CIP người bán c̣n phải mua bảo hiểm và chịu phí bảo hiểm. V́ điểm phân chia phí
tổn là cố định tại một điểm ở nước hàng đến nên các điều kiện “C” thường bị
hiểu nhầm là điều kiện của các hợp đồng mua bán hàng đến đích (hợp đồng đến),
mà theo hợp đồng đó th́ người bán sẽ phải chịu mọi rủi ro và phí tổn cho tới
khi hàng hoá thực sự đă đến được nơi qui định. Tuy nhiên cần nhấn mạnh rằng
tính chất của điều kiện “C” cũng giống như tính chất của điều kiện “F” ở chỗ là
người bán làm xong nghĩa vụ của ḿnh tại nơi gửi hàng. Do vậy, hợp đồng mua bán
theo điều kiện “C” cũng giống hợp đồng mua bán theo điều kiện “F” đều thuộc
loại hợp đồng gửi hàng đi.
Bản
chất của hợp đồng gửi hàng đi là người bán phải trả phí vận tải thông thường
cho việc chuyên chở hàng hoá theo tuyến đường thông thường và bằng một cách
thức thông thường tới địa điểm thoả thuận, c̣n rủi ro về mất mát hoặc hư hại
đối với hàng hoá cũng như các phí tổn phát sinh sau khi hàng đă được giao để
vận chuyển đi đều do người mua chịu.V́ thế điều kiện “C” khác với các điều kiện
khác ở chỗ điều kiện “C” bao gồm hai điểm quan trọng, đó là điểm mà người bán
phải sắp xếp và chịu phí tổn của một hợp đồng vận tải tới đó và điểm phân chia
rủi ro. Chính v́ lư do này, cần thận trọng khi thêm vào điều kiện “C” các nghĩa
vụ khác của người bán nhằm qui định thêm trách nhiệm của người bán ngoài điểm
phân chia rủi ro đă nói ở trên. Điều cơ bản của điều kiện “C” là người bán được
miễn trách nhiệm đối với rủi ro và phí tổn sau khi người bán đă hoàn thành hợp
đồng của ḿnh bằng cách kư hợp đồng vận tải và giao hàng cho người chuyên chở
và bằng cách mua bảo hiểm theo điều kiện CIF và CIP.
Một
tính chất quan trọng nữa của điều kiện “C” - điều kiện của loại hợp đồng gửi
hàng đi được thể hiện trong việc sử dụng tín dụng chứng từ như là phương thức
thanh toán. Khi các bên thống nhất và qui định trong hợp đồng bán hàng rằng
người bán sẽ được thanh toán khi xuất tŕnh các chứng từ giao hàng qui định với
một ngân hàng theo h́nh thức tín dụng chứng từ th́ việc người bán phải chịu rủi
ro và phí tổn sau thời điểm đă được thanh toán theo h́nh thức tín dụng chứng từ
hay phương thức tương tự khác sau khi gửi hàng là hoàn toàn trái với mục đích
của tín dụng chứng từ. Tuy nhiên người bán phải chịu phí tổn của hợp đồng vận
tải cho dù đó là cước phí đă được trả khi gửi hàng hoặc trả khi hàng tới nơi
đến (cước trả sau ), c̣n các chi phí phát sinh thêm do các t́nh huống xảy ra sau
khi gửi hàng đi do người mua chịu.
Nếu
người bán phải cung cấp một hợp đồng vận tải trong đó bao gồm cả việc phải trả
thuế quan, các loại thuế và các phí tổn khác th́ những chi phí đó phải do người
bán chịu theo qui định của hợp đồng. Điều này được tŕnh bày rơ trong điều 6
của tất cả các điều kiện “C”.
Nếu
phải kư nhiều hợp đồng vận tải v́ nhiều khi hàng thường phải chuyển qua những
nơi trung gian trước khi tới nơi đến thoả thuận th́ người bán phải trả các loại
phí tổn này bao gồm cả phí tổn chuyển hàng từ phương tiện vận tải này sang
phương tiện vận tải khác. Tuy nhiên nếu người chuyên chở sử dụng quyền của ḿnh
theo một điều khoản về chuyển tải hay một điều khoản tương tự để tránh những
trở ngại bất ngờ (như nước đóng băng, ách tắc giao thông, biến động lao động,
lệnh của Chính phủ, chiến tranh hoặc các hoạt động chiến tranh) th́ những chi
phí phát sinh từ các sự việc đó do người mua chịu v́ nghĩa vụ của người bán chỉ
giới hạn trong việc mua hợp đồng vận tải thông thường.
Nhiều
khi các bên muốn chỉ ra trong hợp đồng mua bán nghĩa vụ của người bán là phải
cung cấp một hợp đồng vận tải bao gồm cả phí dỡ hàng. V́ các phí như thế thường
nằm trong cước phí khi hàng hoá được vận tải bằng các hăng vận tải đường thuỷ
nên hợp đồng mua bán thường qui định rằng hàng hoá phải được vận chuyển như thế
hoặc ít ra th́ hàng hoá phải được vận chuyển theo “điều kiện tàu chợ’. Trong
các trường hợp khác từ “landed: lên bờ” được thêm vào sau các từ CIF và CFR.
Tuy nhiên không nên thêm các từ viết tắt vào sau điều kiện”C” trừ khi nghĩa của
các từ đó đă được các bên trong hợp đồng hiểu rơ và chấp nhận hoặc phù hợp với
luật pháp và tập quán thương mại.
Đặc
biệt, người bán không nên, thực tế là không thể đảm nhận bất cứ nghĩa vụ nào
đối với việc hàng về tới đích mà không thay đổi bản chất của điều kiện “C”, v́
rủi ro về việc chậm trễ trong qua tŕnh vận chuyển đều do người mua chịu. Do
vậy bất cứ nghĩa vụ nào về thời gian đều gắn với nơi gửi hàng, ví dụ “ gửi hàng
không trễ hơn...”. Hay chẳng hạn như nếu hai bên có thoả thuận “ CFR Hamburg
không trễ hơn...” th́ dó thực sự là một sai lầm và nó có thể dẫn đến nhiều cách
giả thích khác nhau. Có thể cho rằng các bên muốn hàng phải đến cảng Hamburg
vào một ngày cụ thể, trong trường hợp này hợp đồng không c̣n là hợp đồng gửi
hàng mà là hợp đồng hàng đến, cũng có thể cho rằng người bán phải gửi hàng vào
một thời điểm sao cho hàng đến cảng Hamburg trước ngày qui định , trừ khi việc
vận chuyển bị chậm trễ do những t́nh huống không lường trước được.
Trong
mua bán hàng hoá thường xảy ra trường hợp hàng được mua khi đang trên đường vận
chuyển bằng đường biển th́ lúc đó người ta thêm chữ “hàng nổi: afloat” vào sau
điều kiện thương mại. V́ theo điều kiện CIF và CFR rủi ro và mất mát đối với
hàng hoá được chuyển từ người bán sang người mua nên khó khăn trong việc giải
thích có thể xuất hiện. Một khả năng là vẫn duy tŕ nghĩa thông thường của điều
kiện CFR và CIF về điểm phân chia rủi ro giữa người bán và người mua, rủi ro
được chuyển khi gửi hàng: điều này có nghĩa là người mua có thể phải chịu hậu quả
của những sự kiện xảy ra trước khi hợp đồng mua bán có hiệu lực. Một khả năng
khác là rủi ro được chuyển cùng lúc hợp đồng mua bán được kư kết. Khả năng thứ
nhất thực tế hơn v́ thường th́ người ta không thể kiểm tra xác định t́nh trạng
hàng hoá đang trên đường vận chuyển.V́ lư do này ,Công ước của Liên hiệp quốc
năm 1990 về Hợp đồng mua bán hàng hoá điều 68 chỉ ra rằng “Nếu hoàn cảnh chỉ ra
như vậy th́ rủi ro do người mua chịu khi hàng hoá đă được giao cho người chuyên
chở là người đă cung cấp các chứng từ thể hiện hợp đồng vận tải. Tuy nhiên cũng
có ngoại lệ cho qui tắc này khi người bán đă biết hoặc đáng lẽ ra phải biết
rằng hàng hoá đă bị mất mát hay hư hại mà không thông báo cho người mua biết
điều này”. Do vậy việc giải thích các điều kiện CFR hay CIF có thêm từ “afloat:
hàng nổi” sẽ phụ thuộc vào qui định luật pháp áp dụng đối với hợp đồng mua bán.
Các bên cần nắm được luật và các giải pháp áp dụng của luật đó. Trong trường
hợp c̣n nghi ngờ, các bên nên làm rơ vấn đề trong hợp đồng.
Trong
thực tế, các bên thường tiếp tục sử dụng cách thể hiện C&F (C+F) truyền
thống trước đây. Tuy nhiên trong nhiều trường hợp người ta cho rằng cách thể
hiện này tương đương với điều kiện CFR. Để tránh khó khăn trong việc xác định
điều khoản, điều kiện của hợp đồng các bên nên sử dụng điều kiện chính xác của
Incoterm là CFR - từ viết tắt chuẩn mực duy nhất được công nhận trên toàn thế
giới cho điều kiện “Tiền hàng và cước” (...cảng đến qui định).
Điều
8 của CFR và CIF trong Incoterms 1990 qui định nghĩa vụ của người bán là cung
cấp 1 bản sao Hợp đồng thuê tàu nếu chứng từ vận tải (thường là vận đơn) có dẫn
chiếu tới hợp đồng thuê tàu, ví dụ thường có lời ghi chú ‘tất cả các điều kiện,
điều khoản khác như hợp đồng thuê tàu”. Mặc dù khi kư kết hợp đồng các bên
đương nhiên phải hiểu rơ các điều kiện và điều khoản của hợp đồng ḿnh kư nhưng
thực tế khi cung cấp Hợp đồng thuê tàu như đă nói ở trên lại gây ra khó khăn
cho các giao dịch bằng phương thức tín dụng chứng từ. Nghĩa vụ của người mua
theo điều kiện CFR và CIF là phải cung cấp một bản sao hợp đồng thuê tàu cùng
với các chứng từ vận tải đă bị xoá bỏ trong Incoterms 2000.
Mặc
dù điều 8 trong bản Incoterms nhằm đảm bảo rằng người bán phải cung cấp cho
người mua “bằng chứng của việc giao hàng”, nhưng cũng cần nhấn mạnh rằng người
bán đă đáp ứng được yêu cầu đó khi cung cấp “bằng chứng thông thường”. “Bằng
chứng thông thường này” theo điều kiện CFR và CIF là “chứng từ vận tải thông
thường” và theo điều kiện CFR và CIF là một vận đơn hay vận đơn đường biển .
Chứng từ vận tải phải “sạch” (hay hoàn hảo) nghĩa là nó không bao gồm các điều
khoản hay ghi chú nói về t́nh trạng khiếm khuyết của hàng hoá hay/và của bao b́
đóng gói. Nếu có những ghi chú hay nhận xét như vậy trong chứng tù th́ nó được
xem là “không sạch” (không hoàn hảo) và sẽ không được các ngân hàng chấp nhận
trong các giao dịch bằng phương thức tín dụng chứng từ. Tuy nhiên cần lưu ư
rằng một chứng từ vận tải dù không có những nhận xét hay ghi chú như vậy cũng
không cung cấp cho người mua bằng chứng rơ ràng để ràng buộc người chuyên chở
rằng hàng hoá đă được gửi phù hợp vói các qui định của hợp đồng. Thông thường,
người chuyên chở, trong nội dung tiêu chuẩn hoặc tại trang đầu của chứng từ vận
tải từ chối trách nhiệm về các thông tin bằng cách chỉ ra rằng các chi tiết được
điền vào trong chứng từ vận tải là lời khai của người gửi hàng, do đó các thông
tin đó được thông báo là “như đă khai” trong chứng từ. Trong hầu hết các luật
và nguyên tắc được áp dụng th́ người chuyên chở, ít nhất, phải sử dụng các
phương tiện hợp lư để kiểm tra tính chính xác của thông tin, nếu không người
chuyên chở phải chịu trách trước người nhận hàng. Tuy nhiên trong thương mại
container(côngtenơ) người chuyên chở không có các phương tiện để kiểm tra hàng
trong cotainer trừ khi chính người chuyên chở chịu trách nhiệm xếp hàng vào
container.
Có
2 điều kiện liên quan tới bảo hiểm đó là điều kiện CIP và CIF. Theo hai điều
kiện này th́ người bán có nghĩa vụ mua bảo hiểm v́ lợi ích của người mua. Trong
các trường hợp khác các bên phải tự quyết định họ nên mua bảo hiểm ở mức độ
nào. Người bán có nghiă vụ mua bảo hiểm v́ quyền lợi của người mua song lại
không rơ yêu cầu chính xác của người mua về việc này. Theo điều khoản bảo hiểm
hàng hoá (Institute cargo clauses) do Hiệp hội những người bảo hiểm ở Luân đôn
soạn thảo th́ bảo hiểm được tiến hành ở “phạm vi tối thiểu” thuộc điều khoản C
, “phạm vi trung b́nh” thuộc điều khoản B, “phạm vi tối đa” thuộc điều khoản A
. Theo điều kiện CIF trong trong việc mua bán hàng hoá người mua có thể muốn
bán hàng hoá đang trong qua tŕnh vận chuyển cho người khác và sau đó người này
có thể bán lại số hàng hoá đó, nên không thể biết mức bảo hiểm nào là thích hợp
với người mua tiếp theo. Do vậy từ trước tới nay người ta thường mua bảo hiểm
theo điều kiện CIF ở mức tối thiểu nhưng người mua có thể yêu cầu người bán mua
thêm các loại bảo hiểm khác. Tuy nhiên “bảo hiểm ở mức tối thiểu” không phù hợp
với việc bán hàng công nghiệp do các rủi ro về mất cắp hoặc bốc dỡ không đúng
hay việc trông giữ những hàng này đ̣i hỏi phải được bảo hiểm ở phạm vị rộng hơn
mức bảo hiểm theo điều kiện C. Do có sự khác biệt với điều kiện CIF nên điều
kiện CIP không được sử dụng trong mua bán hàng hoá và lẽ ra nên qui định mua
bảo hiểm ở phạm vi tối đa theo điều kiện CIP chứ không phải bảo hiểm ở phạm vi
tối thiểu theo điều kiện CIF. Nhưng nếu hai diều kiện CIP và CIF qui định nghĩa
vụ mua bảo hiểm của người bán khác nhau như vậy th́ dễ dẫn đến nhầm lẫn và do
thế cả hai điều kiện đều giới hạn nghĩa vụ của người bán là mua bảo hiểm ở mức
tối thiểu. Điều đặc biệt quan trọng mà người mua cần phải lưu tâm là bảo hiểm
thêm là cần thiết nên người mua có thể thoả thuận với người bán để người bán
mua bảo hiểm thêm hoặc tự bản thân người mua phải thu xếp mua bảo hiểm thêm.
Cũng có trường hợp đặc biệt người mua muốn được bảo vệ ở mức lớn hơn mức mà bảo
hiểm điều khoản A có thể có chẳng hạn như bảo hiểm đối với trường hợp xảy ra
chiến tranh, bạo động, dân biến, đ́nh công, hay các biến động lao động khác.
Nếu người mua muốn người bán thu xếp các loại bảo hiểm đó th́ phải thông báo
cho người bán biết và trong trường hợp đó người bán sẽ phải mua loại bảo hiểm
đó nếu có thể được.
DAF: Giao tại biên giới
(...địa
điểm qui định)
Theo
điều kiện DAF (viết tắt của thuật ngữ Tiếng Anh “DELIVERD AT FRONTIER” dịch ra
Tiếng Việt là “Giao tại biên giới”) th́ người bán giao hàng khi hàng hoá được
đặt dưới quyền định đoạt của người mua trên phương tiện vận tải chở đến, chưa
dỡ ra, đă hoàn thành thủ tục thông quan xuất khẩu, nhưng chưa làm thủ tục thông
quan nhập khẩu, tại địa điểm qui định ở biên giới, nhưng chưa qua biên giới hải
quan của nước liền kề. Thuật ngữ “Biên giới” có thể được sử dụng cho bất kỳ
đường biên giới nào kể cả đường biên giới của nước xuất khẩu. Do đó việc xác
định đường biên giới một cách chính xác bằng cách luôn luôn phải qui định điểm
đến và nơi đến trong điều kiện này là điều đặc biệt quan trọng.
Tuy
nhiên nếu các bên muốn người bán chịu trách nhiệm đối với việc dỡ hàng từ
phương tiện vận tải chở đến và chịu mọi rủi ro và phí tổn của việc dỡ hàng th́
cần phải qui đinh rơ điều này bằng cách bổ sung các từ ngữ cụ thể trong hợp
đồng mua bán.
Điều
kiện này có thể sử dụng cho những phương tiện vận tải mà việc giao hàng diễn ra
tại biên giới trên đất liền. Nếu việc giao hàng diễn ra ở cảng đến, trên bong
tàu, hoặc trên cầu cảng th́ nên sử dụng điều kiện DES và điều kiện DEQ.
DES(viết tắt của từ Tiếng Anh “DELIVERD EX SHIP”): Giao tại tàu
(...
cảng đến qui định)
“Giao
tại tàu” nghĩa là người bán giao hàng khi hàng hoá được đặt dưới quyền định
đoạt của người mua trên bong tàu chưa làm thủ tục thông quan nhập khẩu tại cảng
đến qui định. Người bán phải chịu mọi phí tổn và rủi ro liên quan đến việc đưa
hàng tới cảng đến qui định trước khi dỡ hàng. Nếu các bên muốn người bán chịu
các rủi ro và phí tổn của việc dỡ hàng th́ nên sử dụng điều kiện DEQ.
Điều
kiện này chỉ có thể được sử dụng khi hàng hoá được giao bằng đường biển hoặc
đường thuỷ nội địa hoặc bằng vận tải đa phương thức trên tàu ở cảng đến.
DEQ (viết tắt của từ Tiếng Anh “DELIVERED EX QUAY”): Giao tại cầu
cảng
(...
cảng đến qui định)
“Giao
tại cầu cảng” nghĩa là người bán giao hàng khi hàng hoá được đặt dưới quyền
định đoạt của người mua, chưa làm thủ tục thông quan nhập khẩu tại cầu tàu ở
cảng đến qui định. Người bán phải chịu mọi phí tổn và rủi ro liên quan tới việc
đưa hàng hoá tới cảng đến qui định và dỡ hàng trên cầu tàu. Điều kiện DEQ yêu
cầu người mua làm thủ tục thông quan nhập khẩu hàng hoá và thanh toán tất cả
các chi phí làm thủ tục, thuế quan, thuế và các phí khác có liên quan tới việc
nhập khẩu hàng hoá.
ĐÂY
LÀ QUI ĐỊNH NGƯỢC LẠI VỚI CÁC BẢN INCOTERMS TRƯỚC ĐÂY. THEO CÁC BẢN INCOTERM CŨ
TH̀ ĐIỀU KIỆN NÀY YÊU CẦU NGƯỜI BÁN LÀM THỦ TỤC THÔNG QUAN NHẬP KHẨU.
Nếu
các bên muốn qui định cho người bán nghĩa vụ phải chịu toàn bộ hay một phần phí
tổn phải trả khi nhập khẩu hàng hoá th́ cần qui định rơ điều này bằng cách thêm
các từ ngữ cụ thể trong hợp đồng mua bán.
Điều
kiện này có thể được sử dụng khi hàng hoá được giao bằng đường biển, đường thuỷ
nội địa hoặc phương tiện vận tải đa phương thức khi dỡ khỏi tàu lên cầu tàu tại
cảng đến . Tuy nhiên nếu các bên muốn qui định cho người bán nghĩa vụ phải chịu
mọi rủi ro, và phí tổn đối với việc bốc hàng từ cầu tàu tới một nơi khác (nhà
kho, nhà ga, bến đỗ phương tiện vận tải...) hoặc một điểm nào đó bên trong hoặc
bên ngoài cảng th́ nên sử dụng điều kiện DDU và DDP.
DDU (từ viết tắt của thuật ngữ Tiếng Anh “DELIVERED DUTY UNPAID”):
Giao chưa nộp thuế
(...
nơi đến qui định)
“Giao
chưa nộp thuế” có nghĩa là người bán giao hàng cho người mua khi hàng hoá chưa
được làm thủ tục thông quan nhập khẩu và chưa được dỡ ra khỏi phương tiện chở
đến tại nơi đến qui định. Người bán phải chịu mọi phí tổn và rủi ro liên quan
đến việc đưa hàng hoá tới điểm đến qui định, mà không bao gồm (nếu có qui định)
bất kỳ “nghĩa vụ” nào (ở đây nghĩa vụ bao gồm trách nhiệm và rủi ro đối với
việc thực hiện các thủ tục hải quan, thanh toán các phí tổn làm thủ tục, thuế
quan, thuế và các lệ phí khác) liên quan đến việc nhập khẩu ở nước hàng đến.
Những “nghĩa vụ đó” cũng như mọi phí tổn và rủi ro phát sinh do người mua không
làm thủ tục thông quan nhập khẩu hàng hoá đúng thời gian phải do người mua đảm
nhận.
Tuy
nhiên nếu các bên muốn người bán thực hiện thủ tục hải quan và chịu các phí tổn
và rủi ro liên quan tới việc làm thủ tục hải quan cũng như thanh toán các phí
phải nộp khi làm thủ tục thông quan nhập khẩu hàng hoá th́ nên qui định rơ điều
này bằng cách thêm các từ ngữ cụ thể vào hợp đồng mua bán.
Điều
kiện này có thể được sử dụng cho mọi phương tiện vận tải, nhưng nếu việc giao
hàng diễn ra ở cảng đến trên bong tàu hoặc trên cầu tàu th́ nên sử dụng điều
kiện DES hoặc DEQ.
DDP (viết tắt của thuật ngữ Tiếng Anh “DELIVERED DUTY PAID”): Giao
đă nộp thuế (... nơi đến qui định)
“Giao
đă nộp thuế” có nghĩa là người bán giao hàng cho người mua khi hàng hoá đă làm
thủ tục thông quan nhập khẩu và chưa dỡ ra khỏi phương tiện vận tải chở đến tại
nơi đến qui định. Người bán phải chịu mọi phí tổn và rủi ro liên quan tới việc
đưa hàng hoá tới nơi đến qui định và c̣n phải thực hiện (nếu có qui định) bất
kỳ “nghĩa vụ” nào (“nghĩa vụ” ở đây bao gồm trách nhiệm và rủi ro đối với việc
thực hiện các thủ tục hải quan và thanh toán các các phí tổn làm thủ tục, thuế
quan, thuế và các lệ phí khác) liên quan tới việc nhập khẩu ở nước hàng đến.
Trong
khi điều kiện EXWqui định nghĩa vụ tối thiểu của người bán th́ điều kiện DDP
qui định nghĩa vụ tối đa của người bán.
Không
nên sử dụng điều kiện này nếu người bán không thể trực tiếp hoặc gián tiếp lấy
được giấy phép nhập khẩu.
Tuy
nhiên nếu các bên muốn giảm bớt cho nghĩa vụ của người bán một số phí tổn phải
trả cho việc nhập khẩu hàng hoá (chẳng hạn như thuế giá trị gia tăng: VAT) th́
nên qui định rơ điều này bằng cách bổ sung thêm các từ ngữ cụ thể trong hợp
đồng mua bán.
Nếu
các bên muốn người mua chịu mọi rủi rovà phí tổn của việc nhập khẩu th́ nên sử
dụng điều kiện DDU.
Điều
kiện này có thể được sử dụng cho bất kỳ phương tiện vận tải nào, nhưng nếu việc
giao hàng diễn ra tại cảng đến trên bong tàu hoặc trên cầu tàu th́ nên sử dụng
điều kiện DES hoặc DEQ.
EXW (viết tắt của thuật ngữ Tiếng Anh “EX WORK”): Giao tại xưởng
(...địa
điểm qui định)
“Giao
tại xưởng” nghĩa là người bán giao hàng khi đặt hàng hoá dưới quyền định đoạt
của người mua tại cơ sở của người bán hoặc tại một địa điểm qui định (chẳng hạn
như xưởng sản xuất, nhà máy, nhà kho...), hàng hoá chưa được làm thủ tục thông
quan xuất khẩu và chưa được bốc lên phương tiện tiếp nhận.
Điều
kiện này qui định nghĩa vụ tối thiểu cho người bán và người mua phải chịu tất
cả các chi phí và rủi ro từ khi nhận hàng tại cơ sở của người bán.
Tuy
nhiên nếu các bên muốn người bán chịu trách nhiệm đối với việc bốc hàng lên
phương tiện chở đi và chịu mọi phí tổn và rủi ro của việc bốc hàng đó th́ cần
qui định rơ điều này bằng cách thêm các từ ngữ cụ thể vào trong hợp đồng mua
bán. Không nên sử dụng điều kiện này khi người mua không thể trực tiếp hoặc
gián tiếp thực hiện các thủ tục xuất khẩu.Trong những trường hợp như thế th́
nên sử dụng điều kiện FCA với điều kiện người bán đồng ư bốc hàng và chịu mọi
phí tổn và rủi ro của việc bốc hàng đó.
FOB: Giao lên tàu
(...cảng
bốc hàng qui định)
Theo
điều kiện FOB (từ viết tắt của thuật ngữ Tiếng Anh “FREE ON BOARD” dịch ra
Tiếng Việt là “Giao lên tàu”) th́ người bán giao hàng khi hàng hoá đă qua lan
can tàu tại cảng bốc hàng qui định. Điều này có nghĩa là người mua phải chịu
mọi chi phí và rủi ro về mất mát hoặc hư hại đối với hàng hoá kể từ sau điểm đó
(khi hàng đă qua hẳn lan can tàu ở cảng bốc hàng). Điều kiện FOB yêu cầu người
bán phải làm thủ tục thông quan xuất khẩu cho hàng hoá. Điều kiện này chỉ có
thể sử dụng cho việc vận tải hàng hoá bằng đường biển hoặc đường thuỷ nội địa.
Nếu các bên không có ư định giao hàng qua lan can tàu th́ nên sử dụng điều kiện
FCA.
FCA: Giao cho ng ười chuyên chở
(...địa
điểm qui định)
Theo
điều kiện FCA (từ viết tắt của thuật ngữ Tiếng Anh “FREE CARRIER” dịch ra Tiếng
Việt là “Giao cho người chuyên chở”) th́ người bán sau khi đă làm xong thủ tục
thông quan xuất khẩu, giao hàng hoá cho ngướ chuyên chở do người mua chỉ định
tại địa điểm qui định. Cần lưu ư rằng địa điểm được chọn để giao hàng có ảnh
hường tới nghĩa vụ bốc hàng và dỡ hàng tại địa điểm đó. Nếu việc giao hàng diễn
ra tại cơ sở của người bán th́ người bán phải có nghĩa vụ bốc hàng. Nếu giao
hàng diễn ra tại địa điểm không phải là cơ sở của người bán th́ người bán không
có trách nhiệm dỡ hàng.
Điều
kiện này có thể được sử dụng cho mọi phương tiện vận tải bao gồm cả vận tải đa
phương thức.
Người
chuyên chở là bất kỳ người nào, mà theo hợp đồng vận tải, cam kết tự ḿnh thực
hiện hoặc đảm nhận việc chuyên chở bằng đường sắt, đường bộ, đường hàng không,
đường biển, đường thuỷ nội địa hoặc kết hợp các phương thức vậ n tải đó.
Nếu
người mua chỉ định một người nào đó, không phải là người chuyên chở, nhận hàng
th́ người bán coi như đă hoàn thành nghĩa vụ giao hàng khi hàng đă được giao
cho người được chỉ định đó.
FAS: Giao dọc mạn tàu
(...
cảng gửi hàng qui định)
Theo
điều kiện FAS (từ viết tắt của thuật ngữ Tiếng Anh “FREE ALONGSIDE SHIP” dịch
ra Tiếng Việt là “ Giao dọc mạn tàu”) th́ người bán giao hàng khi hàng hoá được
đặt dọc theo mạn tàu tại cảng gửi hàng qui định. Điều này có nghĩa là người mua
phải chịu mọi chi phí và rủi ro về mất mát và hư hại đối với hàng hoá kể từ
thời điểm đó.
Điều
kiện FAS yêu cầu người bán làm thủ tục thông quan xuất khẩu cho hàng hoá.
Đây
là qui định ngược với các bản INCOT ERM trước đây. Theo các bản INCOT ERM cũ,
điều kiện này đ̣i hỏi người mua làm thủ tục thông quan xuất khẩu.
Tuy
nhiên nếu các bên muốn người mua làm thủ tục thông quan xuất khẩu cho hàng hoá
th́ cần phải qui định rơ điều này bằng cách bổ sung thêm các từ ngữ chính xác
thể hiện ư định đó trong hợp đồng mua bán.
Điều
kiện này chỉ có thể sử dụng cho vận tải đường biển hay đường thuỷ nội địa.
BIẾN
THỂ CỦA INCOTERM: Trong thực tế thường xảy ra hiện
tượng các bên tự thêm một số từ vào Incoterm nhằm đạt được độ chính xác hơn
những qui định của điều kiện đó. Cần lưu ư rằng Incoterm không có một hướng dẫn
nào cho việc thêm từ như thế. Do vậy nếu các bên không thể dựa vào các tập quán
thương mại để giải thích các từ thêm vào đó th́ có thể sẽ bắt gặp các rắc rối
nghiêm trọng khi không có sự thông hiểu nhất quán đối với các từ thêm vào đó.
Ví
dụ khi sử dụng cụm từ”FOB towed: FOB đă xếp” hoặc “EXW loaded: EXW đă bốc” th́
không thể có sự giải thích và thông hiểu thống nhất toàn thế giới rằng nghĩa vụ
của người bán không chỉ phải chịu phí tổn bốc hàng lên tàu hay các phương tiện
vận tải mà c̣n phải chịu các phí tổn và rủi ro về tổn thất ngẫu nhiên hoặc hư hại
đối với hàng hoá trong quá tŕnh xếp hàng và bốc hàng.V́ những lư do đó các bên
cần phải chỉ rơ các điều kiện này chỉ có ư nghĩa rằng người bán chỉ có nhiệm vụ
và chịu chi phí về việc bốc và xếp hàng hay c̣n phải chịu mọi rủi ro cho đến
khi hoàn thành việc bốc và xếp hàng trên thực tế. Incoterm không đưa ra giải
đáp cho các vấn đề này, do vậy nếu hợp đồng không nêu được một cách cụ thể và
rơ ràng ư định của các bên th́ các bên sẽ có thể sẽ phải chịu những phiền phức
và tốn kém không cần thiết.
Mặc
dầu Incoterm 2000 không đưa ra nhiều biến thể của Incoterm thường hay được sử
dụng, nhưng phần mở đầu của các điều kiện đều cảnh báo/ nhắc nhở các bên về
việc cần phải có các điều khoản hợp đồng cụ thể nếu các bên muốn áp dụng thêm
các điều khoản nằm ngoài qui định của Incoterm.
Đối
với điều kiện EXW: Nghĩa vụ thêm vào của người bán là bốc hàng lên phương tiện
tiếp nhận của người mua.
EXW:
Nghĩa vụ thêm vào của người bán là bốc hàng lên phương tiện tiếp nhận của người
mua.
CIF/CIP:
Người mua cần phải mua bảo hiểm thêm.
DEQ:
Nghĩa vụ thêm vào của người bán là phải thanh toán các phí tổn sau khi dỡ hàng.
Trong
một số trường hợp người bán và người mua phải dẫn chiếu tới tập quán vận tải
tàu chợ và tàu chuyến. Trong những trường hợp như thế này th́ cần phải phân
biệt rơ nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng vận tải và nghĩa vụ của các bên đối
với nhau trong hợp đồng mua bán. Rất tiếc là không có định nghĩa chính thức nào
về các cụm từ như “liner temrs: điều kiện tàu chợ và “terminal handling
charges: phí dịch chuyển tại bến ”. Việc phân chia phí tổn theo các điều kiện
như vậy có thể khác nhau ở các địa điểm khác nhau và thể thay đổi theo thời
gian. Các bên cần nêu rơ trong hợp đồng mua bán việc phân chia các phí tổn đó.
Các
cụm từ thường dùng trong hợp đồng thuê tàu như “FOB towed: FOB xếp hàng”, “FOB
stowed and trimmed: FOB xếp hàng và san hàng: san trải” thỉnh thoảng được dùng
trong hợp đồng mua bán để làm rơ nghĩa vụ của người bán theo điều kiện FOB là
phải xếp hàng và san trải hàng hoá. Khi đă thêm các từ như thế vào Incoterm th́
cần phải làm rơ trong hợp đồng mua bán là nghĩa vụ thêm vào chỉ liên quan tới
các phí tổn hay liên quan tới cả các phí tổn và rủi ro .
Như
đă nói ở trên, có rất nhiều nỗ lực đă được thực hiện nhằm đảm bảo rằng Incoterm
thể hiện được tập quán thương mại thông dụng nhất. Tuy nhiên trong một số
trường hợp , đặc biệt là ở những chỗ mà Incoterm 2000 khác với Incoterm 1990,
các bên có thể muốn các điều kiện thương mại khác đi. Trong phần mở đầu của các
điều kiện của Incoterm có lưu ư việc này bằng câu mở đầu với từ “Tuy nhiên”.
*
THÔNG QUAN: thuật ngữ thông quan đă từng gây hiểu lầm. Do vậy bất cứ khi nào có
dẫn chiếu về nghĩa vụ của người bán hay người mua phải đảm nhận các nghĩa vụ
đưa hàng đi qua hải quan của nước nhập khẩu và xuất khẩu th́ cũng cần qui định
rơ nghĩa vụ này không chỉ bao gồm việc phải thanh toán thuế quan và các phí
khác mà c̣n phải thực hiện và chịu các chi phí về thủ tục hành chính có liên
quan tới việc đưa hàng hoá qua hải quan và thông báo cho các nhà chức trách .
Ngoài ra Thuật ngữ “Thông quan” được xem như không phù hợp,dù chưa thật chính
xác, ở một số khu vực như Liên minh Châu âu hay các khu mậu dịch tự do khác, v́
ở đó không c̣n nghĩa vụ phải nộp thuế quan và các hạn chế xuất khẩu hay nhập
khẩu. Để làm rơ vấn đề này cụm tù “nếu có” đă được thêm vào điều khoản
A2 và B2, A6 và B6 trong một số điều kiện của Incoterms “Để những điều kiện
này vẫn có thể được sử dụng mà không gây ra sự mơ hồ, nhập nhằng trong trường
hợp không yêu cầu làm thủ tục hải quan”.
Thông
thường việc thông quan diễn ra tại nước nào th́ do bên cư trú tại nước đó hoặc
ít ra cũng do người đại diện của bên đó chịu trách nhiệm thu xếp. Do vậy nhà
xuất khẩu thường làm thủ tục thông quan xuất khẩu c̣n nhà nhập khẩu thường làm
thủ tục thông quan nhập khẩu.
Bản
Incoterms 1990 đă không đề cập đến điều này trong các điều kiện thương mại EXW
và FAS (người mua có nghĩa vụ làm thủ tục thông quan xuất khẩu) và DEQ (người
bán có nghĩa vụ thông quan nhập khẩu) nhưng trong bản Incoterms2000 điều kiện
FAS và DEQ qui định nghĩa vụ của người mua là làm thủ tục thông qua xuất khẩu
hàng hoá và nghĩa vụ của người bán là làm thủ tục thông quan nhập khẩu hàng
hoá, c̣n điều kiện EXW - điều kiện qui định nghĩa vụ của người bán ở mức tối
thiểu - vẫn giữ nguyên không thay đổi (người mua có nghĩa vụ làm thủ tục thông
quan xuất khẩu hàng hoá). Theo điều kiện DDP người bán phải chấp nhận thực hiện
các nghĩa vụ mà điều kiện đă nêu như chính tên gọi của điều kiện – Giao đă nộp
thuế: Delivered Duty Paid – nghĩa là người bán phải làm thủ tục thông quan xuất
khẩu và chịu mọi loại phí có liên quan.
NTPC
Xuất khẩu sẽ được lợi từ FTA Việt Nam - EU
Bộ quy tắc INCOTERMS 2010
Xung đột pháp luật trong hợp đồng thương mại quốc tế
Đàm phán hợp đồng thương mại quốc tế
Giải quyết tranh chấp trong hợp đồng mua bán hang hóa quốc tế
Những lợi ích của việc các nước công nhận Việt Nam là nền kinh tế thị trường
Kinh doanh đa cấp
Quyền xuất, nhập khẩu trao cho ai?
|
Cq chủ quản: Sở Công Thương Nghệ An Thực hiện: Trung Tâm Xúc Tiến Thương Mại N An Đc: 70 Nguyễn Thị Minh Khai, Vinh, Nghệ An Tel: 038.3596628, Fax: 038.3596638, Email: ntpcnghean@hn.vnn.vn |
GP Số:113/GP-TTĐT Cục Phát thanh Truyền hình và TTĐT cấp ngày 09/6/2011. Chịu trách nhiệm chính : Ô. Nguyễn Trọng Hùng, Giám đốc Trung tâm Bản quyền:Trung tâm Xúc tiến Thương mại Nghệ An Nghe An Trade Promotion Centre (NTPC) |