10-2-2012
Vận tải Ngoại thương (GS.TS. Hoàng Châu- ĐH Ngoại Thương) (3/29/2008 9:11:29 AM)

Vận tải, đặc biệt là vận tải quốc tế (là việc chuyên chở được tiến hành trên lănh thổ của ít nhất hai nước) và ngoại thương (buôn bán quốc tế ) có mối quan hệ chặt chẽ, khăng khít với nhau, có tác dụng thúc đẩy nhau cùng phát triển. Vận tải quốc tế là tiền đề, là điều hiện tiên quyết để buôn bán quốc tế ra đời và phát triển. Lênin nói:

Mối quan hệ giữa vận tải và ngoại thương

Vận tải, đặc biệt là vận tải quốc tế (là việc chuyên chở được tiến hành trên lănh thổ của ít nhất hai nước) và ngoại thương (buôn bán quốc tế ) có mối quan hệ chặt chẽ, khăng khít với nhau, có tác dụng thúc đẩy nhau cùng phát triển. Vận tải quốc tế là tiền đề, là điều hiện tiên quyết để buôn bán quốc tế ra đời và phát triển. Lênin nói: “Vận tải là phương tiện vật chất cuẩ mối liên hệ kinh tế với nước ngoài” . Khi buôn bán quốc tế phát triển lại tạo ra yêu cầu để thúc đẩy vận tải phát triển. Vận tải phát triển làm cho giá thành vạn chuyển hạ, tạo điều kiện để nhiều mặt hàng có giá trị thấp có thể tham gia buôn bán quốc tế. Đối với thương mại quốc tế, vận tải có những tác dụng sau đây:

-Đảm bảo chuyên chở khối lượng hàng hoá xuất nhập khẩu ngày càng tăng trong thương mại quốc tế;

-Làm thay đổi cơ cấu hàng hoá và cơ cấu thị trườngtrong buôn bán quốc tế;

-Vận tải quốc tế ảnh hưởng trực tiếp đến cán cân thanh toán của một nước. Vận tải quốc tế được coi là lĩnh vực xuất nhập khẩu vô h́nh (Invisible trade), nó cơ thể gốp phần cải thiện hay làm trầm trọng thêm cán cân thanh toán quốc tế của mỗi nước.

Phân chia trách nhiệm về vận tải trong ngoại thương

Trong ngoại thương (xuất, nhập khẩu), việc chuyên chở hàng hoá từ nước người bán sang nước người mua là nghĩa vụ đồng thời là quyền lợi cho mỗi bên - người bán và người mua. Người bán hay người mua không trực tiếp vận chuyển hàng hoá mà phải thuê một người thứ ba gọi là người chuyên chở hay người vận tải. Nghĩa vụ thuê vận tải và chịu chi phí về vận tải được quy định trong hợ đồng mua bán, kư kết giữa người bán và người mua. Hợp đồng này thường được kư kết theo các điều kiện thương mại quốc tế (Incoterms) khác nhau, theo đó nghĩa vụ, quyền lợi về vận tải phân chia giữa người mua và người bán cũng khác nhau. Người nào chịu trách nhiệm và chi phí thuê phương tiện vận tải để chuyên chở hàng hoá trên chặng đường chính (tuỳ thuộc vào phương thức vận tải) th́ coi như đă dành được quyền về vận tải hay quyền thuê tàu ( trong vận tải đường biển). theo Incoterms 1990, trách nhiệm thuê phương tiện vận tải để chuyên chở hàng hoá từ nước xuất khẩu về nước nhập khẩu được phân chia giữa người bán và người mua như sau:

a) Người bán chịu trách nhiệm (dành được quyền vận tải) theo các điều kiện: CFR (Cost and Freight), CIF (Cost, Insurance & Freight), CPT (Carriage Paid to), CIP (Carriage & Insurance Paid to), DDU (Delivered Duty Unpaid), DDP (Delivered Duty Paid), DES(Delivered Ex Ship), DEQ (Delivered Ex Quay), DAF (Delivered At Frontier).

b) Người mua chịu trách nhiệm (dành được quyền về vận tải theo các điều kiện: EXW (Ex Works), FCA (Free Carrier), FOB (Free on Board), FAS (Free Alongside Ship)

Dành được quyền về vận tải có những lợi ích sau đây:

- Chủ động trong việc chuyên chở, đàm phán, kư kết hợp đồng...

- Có thể lựa chọn người chuyên chở, tuyến đường vận tải, phương pháp chuyên chở có lợi cho ḿnh;

- Tận dụng được đội tàu và phương tiện vận tải của ḿnh để chuyên chở hàng hoá nhằm tăng thu và giảm chi ngoại tệ;

- Có thể tác động vào thị trường cước phí để ổn định hoặc giảm giá cước.

Muốn đành được quyền về vận tải hay thuê tàu cần phải kư kết hợp đồng mua bán ngoại thưong theo nhưũng điều kiện thương mại quốc tế thích hợp như đă nói ở trên.

Ở Việt Nam hiện nay, các doanh nghiệp xuất nhập khẩu, kkhi xuất khẩu hàng hoá bằng đường biển, thường kư hợp đồng theo điều kiện FOB và khi nhập khẩu thường kư hợp đồng theo điều kiện CRF hoặc CIF, do vậy không dành đựoc quyền thuê tàu và không tận dụng được đội tàu buôn đang thiếu việc là của ta, gây thất thu về ngoại tệ. Theo số liệu của Bộ Giao thông vận tải, hiện nay đội tầu của ta chỉ vận chuyển từ 10-12% khối lượng hàng hoá ngoại thương và 20% khối lượng hàng hoá qua cảng Việt Nam.

Để đảm bảo quyền lợi của các nước đang phát triển tham gia vào việc vận chuyển hàng hoá xuất nhập khẩu, LHQ đă thông qua vào năm 1974, Công ước về Quy tắc làm việc của Công hội tàu chợ (Liner Code), trong đó quy định quyền vận tải hàng hoá xuất nhập khẩu bằng đường biển được phân chia giữa nước xuất khẩu, nước nhập khẩu và nước thứ ba ( Cross Trader) theo tỷ lệ 40/40/20.Mục đích của Công ước là ưu tiên dành cho bản thân các nước xuất khẩu và nước nhập khẩu vận chuyển phần lớn (80%) khối lượng hàng hoá xuất, nhập khẩu của ḿnh, chỉ để cho nước thứ ba vận chuyển 20% mà thôi. Theo tính toán của Bộ Giao thông vận tải, nếu Việt Nam đảm bảo vận chuyển được 40% khối lượng hàng hoá xuất nhập khẩu của ḿnh th́ có thể tiết kiệm được 400 triệu USD tiền cước mỗi năm.

Lựa chọn các phương thức vận tải

Tất cả các phương thức vận tải đều có thể tham gia chuyên chở hàng hoá xuất nhập khẩu. Tuy nhiên, lựa chọn phương thức nào để vận chuyển phụ thuộc vào nhiều yếu tố, như: loại hàng, hành tŕnh của hàng hoá, điều kiện buôn bán, laọi bao b́, yêu cầu của khách hàng... Một yếu tố quan trọng nữa cần phải tính đến là đặc điểm, ưu, nhược điểm của từng phương thức vận tải. Sau đây là bảng so sánh tính ưu việt (1 là tốt nhất, 5 là kém nhất) của từng phương thức vận tải theo một số các tiêu chí, như: tốc độ,

Xếp

hạng

Tốc độ

Tính đều đặn

Độ tin cậy

Năng lực vận chuyển

Tính linh hoạt

Giá thành

1

Đường không

Đường ống

Đường ống

Đường thuỷ

Đường

ô tô

Đường thuỷ

2

Đường

ô tô

Đường

ô tô

Đường

ô tô

Đường sắt

Đường sắt

Đường ống

3

Đường sắt

Đường không

Đường sắt

Đường ô tô

Đường không

Đường sắt

4

Đường

thuỷ

Đường sắt

Đường thuỷ

Đường không

Đường thuỷ

Đường

ô tô

5

Đường

ống

Đường

thuỷ

Đường không

Đường

ống

Đường

ống

Đường không

Qua bảng trên ta thấy về tốc độ th́ Vận tải hàng không có tốc độ cao nhất, về năng lực vận chuyển và giá thành th́ Vận tải đường thuỷ (Đường biển và Đường sông) là ưu việt nhất... Tuy nhiên, tuỳ thuộc vào hành tŕnh của hàng hoá, cũng có thể lựa chọn h́nh thức vận tải đa phương thức ( kết hợp nhiều phương thức vận tải) để khắc phục nhựơc điểm của phương thức vận tải này, phát huy ưu điểm của phương thức vận tải kia nhằm đưa hàng hoá từ nơi đi tới nơi đến một cách hiệu quả nhất.

Phương thức vận tải với các điều kiện giao hàng

Tuỳ thuộc vào việc hàng hoá được vận chuyển bằng phương thức ǵ (đường biển, đường hàng không, đường sắt, đường ô tô, đường thuỷ nội địa hay vận tải đa phương thức) mà phải lựa chọn các điều kiện giao hàng (Incoterms) thích hợp để quy định trong hợp đồng mua bán. Incoterms 1990 đă quy định các điều kiện giao hàng tương ứng với các phương thức vận tải như sau:

Phương thức vận tải

Các điều kiện giao hàng tương ứng

Bất kỳ phương thức vận tải nào, kể cả vận tải đa phương thức, vận tải bằng container

EXW, FCA, CPT, CIP, DAF, DDU, DDP

Vận tải hàng không

FCA

Vân tải đường sắt

FCA

Vận tải đường biển và vận tải thuỷ nội địa

FAS, FOB, CFR, CIF DES, DEQ

Các tin liên quan
Cơ hội đầu tư - kinh doanh
Thông kê truy cập
Số khách đang online: 352
Số lượt khách đã truy cập: 3470187

Cq chủ quản: Sở Công Thương  Nghệ An

Thực hiện: Trung Tâm Xúc Tiến Thương Mại N An

Đc: 70 Nguyễn Thị Minh Khai, Vinh, Nghệ An

Tel: 038.3596628, Fax: 038.3596638,

Email: ntpcnghean@hn.vnn.vn

GP Số:113/GP-TTĐT Cục Phát thanh Truyền hình và TTĐT cấp ngày 09/6/2011.

Chịu trách nhiệm chính : Ô. Nguyễn Trọng Hùng, Giám đốc Trung tâm

Bản quyền:Trung tâm Xúc tiến Thương mại Nghệ An

Nghe An Trade Promotion Centre (NTPC)