HỒ SƠ QUỐC GIA
Butan
THÔNG TIN CƠ BẢN VỀ VƯƠNG QUỐC BU-TAN
VƯƠNG QUỐC BU-TAN
(KINGDOM OF BHUTAN)
*****
I. Khái quát chung:
- Tên nước Vư¬ơng quốc Bu-tan (Kingdom of Bhutan).
- Thủ đô Thim-phu (Thimphu)
- Vị trí địa lý Bu-tan nằm trên triền Nam dãy Hi-ma-lay-a. Bắc giáp Tây Tạng (Trung Quốc) 470 km, phần còn lại giáp Ấn Độ 605 km, không có đường thông ra biển.
- Khí hậu Đa dạng, nhiệt đới ở phía Nam, mùa đông lạnh và mùa hè nóng ở miền Trung, mùa đông lạnh và mùa hè mát ở phía Bắc dãy Himalaya.
- Diện tích 47.000 km2
- Dân số 672,425, gồm các dân tộc Bhote, Nepalese ) và các bộ tộc di cư khác.
- Tôn giáo 75% dân số theo Phật giáo Lamaistic, 25% theo Hindu giáo
- Ngôn ngữ Tiếng Dzongkha là ngôn ngữ chính thức.
- Quốc khánh 17/12/1907 (ngày vị vua đầu tiên Ugyen Wangchuk lên nắm quyền)
- Ngày độc lập 8/8/1949
- Đơn vị tiền tệ Ngultrum (BTN) và Rupee Ấn Độ (INR)
- Thu nhập quốc dân GDP đạt khoảng 840,5 triệu USD (2005); GDP bình quân đầu ngư¬ời 1400 USD/năm (tính theo PPP, năm 2003).
II. Lịch sử phát triển:
Bu-tan có gần 4000 năm lịch sử. Năm 1865, Anh và Bu-tan ký Hiệp ước Sinchulu, theo đó Bu-tan sẽ nhận được trợ cấp hàng năm, đổi lại phải giao một số đất ở biên giới cho British India. Năm 1907, Bu-tan thiết lập nền quân chủ và 3 năm sau ký Hiệp ước với Anh theo đó Anh vẫn nắm hoạt động đối ngoại của nước này. Sau khi giành độc lập năm 1947, Bu-tan và Ấn Độ ký hiệp ước năm 1949 quy định trả lại các vùng lãnh thổ mà Bu-tan đã trao cho Anh trước kia.
Bu-tan lập Quốc hội năm 1953, cải cách ruộng đất và xoá bỏ chế độ nông nô năm 1956, tách cơ quan tư pháp ra khỏi cơ quan hành pháp và lập ra Toà án Thượng thẩm năm 1968.
Tháng 3/2005, Quốc vương Jigme Singye Wangchuk công bố bản dự thảo hiến pháp đầu tiên, dự kiến sẽ tổ chức một cuộc trưng cầu dân ý, sau đó trình quốc hội thông qua sau bầu cử quốc hội lần đầu tiên vào năm 2008. Ngày 14/12/2006, Vua Jigme Singye Wangchuk đã truyền ngôi cho con trai là Jigme Khesar Wangchuk.
III. Thể chế chính trị:
- Bu-tan theo chế độ quân chủ.
- Nhà Vua là Nguyên thủ quốc gia, lãnh đạo đất nước thông qua Quốc hội, Hội đồng Bộ trưởng và Hội đồng Cố vấn Hoàng gia.
- Thủ tướng (chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng) có nhiệm kỳ một năm, hiện nay là Lyonpo Khandu Wangchuk (từ ngày 7/9/2006).
- Hội đồng bộ trưởng (Nội các – Lhengye Shungtsog) do Hoàng gia đề xuất và được quốc hội thông qua, nhiệm kỳ 5 năm.
- Quốc hội (Tshogdu) có 150 ghế, trong đó 105 được bầu từ các đơn vị bầu cử, 10 đại diện cho các giáo phái, 35 do hoàng gia chỉ định. Nhiệm kỳ Quốc hội là 03 năm. Dự kiến năm 2008 sẽ tổ chức bầu cử quốc hội đầu tiên.
IV- Kinh tế - Xã hội:
Nông nghiệp chủ yếu là trồng trọt và chăn nuôi, chiếm 85% lực lượng lao động, và 33% GDP. Công nghiệp nhỏ bé. Những nghề không truyền thống như thương mại và dịch vụ công cộng, chủ yếu dùng lao động nước ngoài (Nê-pan, Tây Tạng và Ấn Độ). Phần lớn hàng tiêu thụ và công nghiệp phải nhập từ Ấn Độ. Hình thức hàng đổi hàng vẫn phổ biến, đặc biệt tại vùng cao. Đồng Ngultrum của Bu-tan được lưu hành song song với đồng Ru-pi của Ấn Độ với tỷ giá tương đương.
Viện trợ nước ngoài có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế Bu-tan, nhất là từ Ấn Độ; xuất khẩu chủ yếu là điện năng (sang Ấn Độ) và một số mặt hàng khác như quặng thạch cao, gỗ xây dựng, hàng mỹ nghệ, hoa quả, đá quý và gia vị.
Bu-tan đang tiến hành kế hoạch năm năm lần thứ 09 (7/2002-7/2007). Gần đây kinh tế Bu-tan tăng trưởng cao hơn nhờ phát triển thủy điện. Xuất khẩu năm 2006 tăng 61%, đạt 114 triệu USD, phần lớn là do xuất khẩu điện sang Ấn Độ.
Từ 2001-2004, tăng trưởng kinh tế bình quân của Bu-tan là 7,7%. Năm 2005, GDP tăng 6,1% , 2006 dự tính tăng 9,0%. Năm 2004-05: tổng dự trữ ngoại tệ của Bu-tan là 366,5 triệu USD, năm 2006 là 479 triệu USD. Dự báo tăng trưởng kinh tế của Bu-tan năm 2007 có thể đạt tới 18%. Bu-tan đang chuẩn bị cho việc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) vào năm 2008.
IV- Đối ngoại:
Theo hiệp ước giữa Ấn Độ và Bu-tan năm 1949, Ấn Độ chịu trách nhiệm về quan hệ đối ngoại và quốc phòng của Bu-tan.
Từ cuối thập niên 70', Bu-tan mở rộng quan hệ, gia nhập Liên hợp quốc, không liên kết, sáng lập SAARC, BIMSTEC.
Bu-tan đã thiết lập quan hệ ngoại giao với các nước khu vực Nam Á; Đông Bắc Á (Nhật Bản 1986; Hàn Quốc 1987); Đông Nam Á (Thái Lan 1991, Singapore 2002); với Au-xtra-lia 2002; và một số nước khác trên thế giới. Bu-tan không có quan hệ ngoại giao với Trung Quốc. Bu-tan đang ngày càng mở rộng thiết lập quan hệ hợp tác với nhiều nước, đặc biệt các nước Châu Âu và các đối tác lớn Áo, Đan Mạch, Phần Lan, Thuỵ Điển, EC, Mỹ, Nhật Bản...
Ấn Độ vẫn là một hướng quan trọng trong chính sách đối ngoại của Bu-tan. Quốc vương Bu-tan thăm Ấn Độ tháng 7/2006, hai bên đã ký hiệp ước thân thiện sửa đổi, theo đó, Bu-tan độc lập hơn về đối ngoại. Ấn Độ cam kết nâng trợ giúp cho kế hoạch năm năm lần thứ 09 của Bu-tan (2002-2007). Ấn Độ cũng đồng ý hỗ trợ về tài chính và kỹ thuật cho chính phủ Bu-tan xây dựng 3 nhà máy thủy điện Chukha (336MW), Kurichhu (60MW), và Tala (1020MW).
Bu-tan là thành viên LHQ, KLK, IOC, SAARC và nhiều tổ chức quốc tế và khu vực khác.
|
Cq chủ quản: Sở Công Thương Nghệ An Thực hiện: Trung Tâm Xúc Tiến Thương Mại N An Đc: 70 Nguyễn Thị Minh Khai, Vinh, Nghệ An Tel: 038.3596628, Fax: 038.3596638, Email: ntpcnghean@hn.vnn.vn |
GP Số:113/GP-TTĐT Cục Phát thanh Truyền hình và TTĐT cấp ngày 09/6/2011. Chịu trách nhiệm chính : Ô. Nguyễn Trọng Hùng, Giám đốc Trung tâm Bản quyền:Trung tâm Xúc tiến Thương mại Nghệ An Nghe An Trade Promotion Centre (NTPC) |