HỒ SƠ QUỐC GIA
Japan
THÔNG TIN CƠ BẢN VỀ NHẬT BẢN
I. Khái quát chung
Tên nước Nhật Bản
Thủ đô Tokyo
Vị trí địa lý Nằm ở ngoài khơi phía đông lục địa Châu Á.
Từ kinh độ 122o 56E đến kinh độ 153o 59E,
Từ vĩ độ 20,25 đến vĩ độ 45,33.
Diện tích 378.000km2, gồm 4 đảo chính: Honshu, Hokkaido,
Kyushu, Shikoku và khoảng 3.900 đảo nhỏ khác.
Dân số 127,74 triệu (1/2006), chủ yếu là người Nhật Bản
(trên 99%); có ít người Ainu (không quá 20.000). Ngoài
ra có trên 640.000 người Triều Tiên, trên 33.500 người
Hoa và 17.000 người Việt Nam.
Khí hậu Ôn đới, bốn mùa phân định rõ ràng. Nhiệt độ trung bình
từ 20-25o C.
Tôn giáo Đạo Phật và Thần Đạo (Shinto) là 2 đạo chính ở Nhật
Bản. 98% người Nhật tự coi là tín đồ của 2 đạo giáo này.
Ngôn ngữ Tiếng Nhật Bản
Quốc khánh Ngày 23/12 (ngày sinh của Vua Nhật Bản Akihito)
Tên các nhà - Nhà Vua : Akihito
lãnh đạo chủ chốt - Thủ tướng : Shinzo Abe (từ 26/9/2006)
- Chủ tịch Hạ viện: Yohei Kono
- Chủ tịch Thượng viện: Eda Satsuki (từ 8/2007)
- Bộ trưởng Ngoại giao: Machimura Nobutaka (từ 8/2007)
Đơn vị tiền tệ Yên - Tỷ giá: 121 Yên/USD (6/2007)
II. Chính trị
Chế độ chính trị
Theo Hiến pháp năm 1947, Nhật Bản theo thể chế quân chủ lập hiến kiểu Anh, trong đó:
Nhà Vua là nguyên thủ tượng trưng về mặt đối ngoại.
Nhà nước được tổ chức theo chế độ tam quyền phân lập
Chính phủ hiện nay là chính phủ liên hiệp của 2 đảng Dân chủ tự do và đảng Komei.
Các đảng phái chính trị chính (phân bổ lực lượng tính đến 28/5/2007):
Đảng chính trị
Thượng viện (242 ghế)
Hạ viện (480 ghế)
Đảng Dân chủ tự do (LDP)
Đảng Dân chủ (JDP)
Đảng Komei
Đảng Cộng sản (JCP)
Đảng Xã hội Dân chủ (JSP)
III. Kinh tế
Là quốc gia nghèo tài nguyên, dân số đông, kinh tế bị tàn phá kiệt quệ trong chiến tranh. Nhờ có các chính sách phù hợp, kinh tế Nhật Bản đã nhanh chóng phục hồi (1945-1954), phát triển cao độ (1955-1973). Từ năm 1974 đến nay, tốc độ phát triển kinh tế tuy chậm lại, song Nhật Bản tiếp tục là một nước có tiềm năng lớn thứ 2 trên thế giới về kinh tế, KHKT, tài chính.
Một số số liệu về kinh tế Nhật Bản:
- Tổng sản phẩm quốc dân (GDP): năm 2005: 540,4 nghìn tỷ Yên - tương đương 4. 533 tỷ USD (nguồn WB 7/2006) ; năm 2006: 551,8 nghìn tỷ Yên - tương đương 4.367 (nguồn IMF 4/2007).
- Dự trữ ngoại tệ tính đến 5/2007: 911,1 tỷ USD
- Xuất khẩu năm 2006: 73.630 tỷ Yên (tăng 13% so với năm 2005)
- Nhập khẩu năm 2006: 63.120 tỷ Yên (tăng 13,5% so với năm 2005)
- Thặng dư thương mại đạt 21.253 tỷ Yên (~200 tỷ UDS), là mức thặng dư cao nhất từ năm 1985, lần đầu tiên đạt trên 20 nghìn tỷ Yên.
(Theo Bộ Tài chính Nhật Bản)
- Tỷ lệ thất nghiệp ở mức cao là 4,4% năm 2005; 4,1% năm 2006; 3,8% (4/2007), là mức thấp nhất trong 9 năm qua.
Hiện tại, Nhật Bản đang xúc tiến chương trình cải cách lớn với nhiều nội dung như cơ cấu kinh tế, giảm thâm hụt ngân sách, cải cách khu vực tài chính và sắp xếp lại cơ cấu chính phủ. Nhờ đó, kinh tế Nhật Bản đã phục hồi sau một thời gian suy thoái kéo dài từ 1997, và có bước tăng trưởng: tỷ lệ tăng trưởng GDP thực chất năm tài khóa 2003 đạt: 2,1%; năm 2004: 2%; năm 2005: 2,4%; năm 2006: 2,1%, giữ chu kỳ phát triển dài nhất sau chiến tranh với 9 quý liên tục tăng trưởng dương.
IV. Quốc phòng
Lực lượng tự vệ (SDF) Nhật Bản có 18 vạn người, trong đó lực lượng Hải quân mạnh nhất. Từ năm 2002, ngân sách quốc phòng Nhật chiếm hơn 1% GDP, đứng hàng thứ 2 trên thế giới.
Nhân sự kiện 11/9, Quốc hội Nhật đã thông qua 3 Luật chống khủng bố, cho phép Nhật lần đầu tiên kể từ sau thế chiến II được cử quân đội ra nước ngoài, hợp tác với Mỹ chống khủng bố. Tháng 5/2003, Quốc hội Nhật Bản thông qua "Bộ luật hữu sự" với nội dung mở rộng chức năng và hoạt động của SDF, quyền chỉ huy của Thủ tướng. Bộ luật này nằm trong tổng thể đường lối từng bước biến Nhật trở thành quốc gia bình thường có quân đội. Tháng 1/2007, Nhật Bản chính thức nâng cấp Cục Phòng vệ lên thành Bộ Phòng vệ (Bộ Quốc phòng).
V. Chính sách đối ngoại
Từ sau chiến tranh lạnh, Nhật Bản điều chỉnh chính sách đối ngoại theo hướng tăng cường tính độc lập, chủ động nhằm vươn lên thành cường quốc chính trị tương xứng với sức mạnh kinh tế, phát huy vài trò và ảnh hưởng trên thế giới và Châu Á-Thái Bình Dương. Đường lối đối ngoại của chính quyền mới thể hiện qua các khái niệm "ngoại giao giá trị: thúc đẩy chủ nghĩa dân chủ, tự do và pháp trị" của Thủ tướng Abe và "xây dựng vành đai tự do và thịnh vượng" của Ngoại trưởng Aso.
|
Cq chủ quản: Sở Công Thương Nghệ An Thực hiện: Trung Tâm Xúc Tiến Thương Mại N An Đc: 70 Nguyễn Thị Minh Khai, Vinh, Nghệ An Tel: 038.3596628, Fax: 038.3596638, Email: ntpcnghean@hn.vnn.vn |
GP Số:113/GP-TTĐT Cục Phát thanh Truyền hình và TTĐT cấp ngày 09/6/2011. Chịu trách nhiệm chính : Ô. Nguyễn Trọng Hùng, Giám đốc Trung tâm Bản quyền:Trung tâm Xúc tiến Thương mại Nghệ An Nghe An Trade Promotion Centre (NTPC) |