6-2-2012

HỒ SƠ QUỐC GIA


Phillippines

 

THÔNG TIN CƠ BẢN VỀ CỘNG HÒA PHI-LÍP-PIN

NƯỚC CỘNG HÒA PHI-LÍP-PIN
(THE REPUBLIC OF THE PHILIPPINES)

I. Khái quát chung
Tên nước : Cộng hòa Phi-líp-pin (The Republic of the Philippines)
Thủ đô : MANILA
Vị trí địa lý : Là quốc gia quần đảo ở Đông Nam Á với khoảng 7107 đảo, chạy dài từ Bắc xuống Nam giữa vĩ tuyến 4023 - 21025
Đặc điểm tự nhiên, khí hậu : Phi-lip-pin có bờ biển dài. 3/4 diện tích là rừng núi; đồng bằng thấp, nhỏ, hẹp, là khu vực có nhiều động đất và núi lửa với khoảng 10 núi lửa đang trong thời kỳ hoạt động. Khí hậu nhiệt đới gió mùa, thường có bão lớn, và có hai mùa rõ rệt là mùa khô và mùa mưa
Diện tích : 300.000 km2
Dân số : 89,4 triệu người (7/2006)
Dân tộc : Gồm 3 nhóm dân tộc chính là Indio theo Cơ đốc giáo, chiếm 3/4 dân số; Các dân tộc miền núi chiếm khoảng 5% và nhóm người Moro theo Hồi giáo, chiếm khoảng 5%. Ngoài ra số ngoại kiều (Hoa, Anh, Â'n, Mỹ, Tây Ban Nha, Arập...) chiếm 2%.
Tôn giáo : Thiên chúa giáo là quốc đạo (85% dân số), Hồi giáo 10%, 5% theo đạo Tin lành và các đạo khác
Ngôn ngữ : Tiếng Tagalog. Tiếng Anh được sử dụng rộng rãi và là ngôn ngữ chính thức trong cơ quan và trường học
Tiền tệ : Đồng pê-sô (Peso)
Ngày Quốc khánh : 12/6/1898
Ngày độc lập : 4/7/1946
Lãnh đạo nhà nước hiện nay
Tổng thống : Bà Gloria Macapagal Arroyo (Nhậm chức ngày 30/6/2004)
Phó Tổng thống : Ông Noli De Castro (Nhậm chức ngày 30/6/2004)
Chủ tịch Thượng viện : Ông Manuel B. (Nhậm chức ngày 24/7/2006)
Chủ tịch Hạ viện : Ông Jose (Nhậm chức ngày 27/7/2004)
Ngoại trưởng : Ông Alberto (Nhậm chức ngày 18/8/2004)

II. Tóm lược về lịch sử, đất nước, con người

Năm 1521, Magellan (người Tây ban nha) đã tới quần đảo Phi-lip-pin và Tây Ban Nha áp đặt chế độ thực dân tại đây đến năm 1898. Ngày 12/6/1898 Tướng Emilio Aguinaldo, Tổng thống đầu tiên của Phi-lip-pin, tuyên bố khai sinh nước Cộng hoà Phi-lip-pin.

Ngày 10/12/1898, Tây Ban Nha ký Hoà ước nhượng Phi-líp-pin cho Mỹ; đến 1913 Mỹ áp đặt sự thống trị lên toàn bộ Phi-líp-pin. Tuy nhiên năm 1935, Mỹ phải tuyên bố cho người Phi-lip-pin hưởng tự trị trong một số lĩnh vực và hứa 10 năm sau sẽ trao trả độc lập.

Trong Chiến tranh thế giới II (từ 12/1941- 1945), Nhật tiến hành chiến tranh và chiếm đóng Phi-líp-pin.

Năm 1945, Nhật thua trận, Mỹ trở lại Phi-líp-pin. Ngày 4/7/1946, Mỹ trao trả độc lập cho Phi-lip-pin. Khi chiến tranh lạnh kết thúc, năm 1992 Mỹ rút quân khỏi căn cứ không quân Clark và căn cứ hải quân Subic ở Phi-lip-pin.

III. Thể chế chính trị
1. Thể chế nhà nước: Cộng hòa
+ Từ 1972 trở về trước: Theo Hiến pháp năm 1935, Quốc hội gồm Thượng viện và Hạ viện. Đứng đầu Nhà nước và Chính phủ là Tổng thống với nhiệm kỳ 4 năm, do dân trực tiếp bầu.
+ Từ 1981-1985: Theo Hiến pháp năm 1973, Quốc hội chỉ gồm một viện (bỏ Thượng viện). Đứng đầu Nhà nước là Tổng thống với nhiệm kỳ 6 năm, không được tái cử. Đứng đầu Chính phủ là Thủ tướng. Quyền lực tập trung vào Tổng thống.
+ Từ 1986 đến nay: Theo Hiến pháp năm 1987, Cơ quan lập pháp cao nhất là Quốc hội (Congress) gồm hai viện. Thượng viện gồm 24 thượng nghị sĩ (với nhiệm kỳ 6 năm) và Hạ viện gồm 200 đến 250 hạ nghị sỹ (với nhiệm kỳ 3 năm)
Tổng thống là người đứng đầu Nhà nước và Chính phủ. Tổng thống có các quyền: bổ nhiệm các bộ trưởng nội các với sự thông qua của Quốc hội; thành lập các Hội đồng...
Cơ chế bầu cử : Theo Hiến pháp năm 1987, dân trực tiếp bầu Tổng thống, Phó Tổng thống và các thượng và hạ nghị sỹ.
2. Các đảng phái chính trị chính:
a) Liên minh cầm quyền hiện nay: Liên minh Lakas-NUCD-UMDP do Tổng thống Arroyo làm Chủ tịch và ông De venecia làm đồng chủ tịch. Hiện nay Liên minh này đổi tên là “Lakas ng Kristiyano at Muslim Democrata “ (Liên minh Sức mạnh quần chúng của những người dân chủ Thiên chúa giáo và Hồi giáo).
b) Các đảng chính trị:
- LDP Phong trào đấu tranh vì nền dân chủ Phi-lip-pin
- LPC Liên hiệp những người dân tộc chủ nghĩa
- PMP Đảng Quần chúng Phi-lip-pin
- UNIDO Đảng Dân tộc Dân chủ Thống nhất
- PDP-Laban Đảng Dân chủ Phi-lip-pin-Sức mạnh quần chúng
- NUCD Liên hiệp toàn quốc những người dân chủ Thiên chúa giáo
- GAD Đại liên minh dân chủ
- PRP Đảng Cải cách nhân dân
- KAMPI Liên hiệp những người Phi-lip-pin tự do
- NP Đảng Dân tộc chủ nghĩa
- LP Đảng Tự do
- KBL Phong trào vì xã hội mới
- LAMMP Liên minh đa đảng gồm LDP, PMP, NPC thành lập 1998.
- PKP Đảng Cộng sản thân Liên Xô, thành lập 1930.
- CPP Đảng Cộng sản thân Trung Quốc, thành lập 1968.
- NDF Mặt trận Dân tộc Dân chủ ( là lực lượng đấu tranh chính trị của CPP, được coi là hợp pháp và có trụ sở ở Hà Lan).

- LAKAS- NUCD Đảng Sức mạnh quần chúng-Liên hiệp toàn quốc những người dân chủ Thiên chúa giáo.

- UMDP Đảng Liên minh những người dân chủ Hồi giáo.
- PPC Liên minh Sức mạnh nhân dân gồm các đảng LP, Reporma, Aksyon, Demokratiko, Lakas-NUCD, Promdi và NP

IV. Kinh tế
Phi-líp-pin được đánh giá là nước khá giầu tài nguyên cả trên đất liền cũng như dưới biển, có nhiều khoáng sản như vàng, đồng, sắt, crôm, măng-gan, than đá, dầu lửa và khí đốt. Năm 2004, Chính phủ ước tính trữ lượng khoáng sản nằm trong lòng đất có tổng giá trị khoảng từ 800 đến 1000 tỷ USD, trong đó quặng đồng khoảng 1,44 tỷ tấn, quặng vàng khoảng 795 triệu tấn, níc-ken 534 triệu tấn ( mới ở dạng tiềm năng). Tuy nhiên, hiện nay Phi-líp-pin mới chỉ xuất khẩu khoáng sản khoảng 0,5 tỷ USD/năm.

Phi-lip-pin chủ yếu vẫn là một nước nông nghiệp, GDP đầu người 1.068 USD (2005). Nông nghiệp chiếm 23% GDP với 70% dân số. Tuy nhiên, Phi-líp-pin hàng năm vẫn phải nhập lương thực (khoảng 2 triệu tấn gạo/năm, trong đó nhập từ Việt Nam 1,7 triệu tấn – 2005). Cây trồng chính là lúa, ngô, dừa, mía, chuối, dứa, cà phê, thuốc lá, bông, đay, các loại đậu và cây Abaca để lấy sợi. Trước đây, công nghiệp của Phi-líp-pin chủ yếu là khai khoáng, gỗ và chế biến thực phẩm. Một số ngành mới nổi lên là điện tử (chiếm trên 60% tổng xuất khẩu, đạt gấn 30 tỷ USD/năm) điện tử và may mặc xuất khẩu (mỗi ngành chiếm khoảng 5,5% xuất khẩu và đạt gần 2,5 tỷ USD/năm). Phi-lip-pin buôn bán chủ yếu với Mỹ, Nhật ( mỗi nước nhập khẩu từ Phi-líp-pin 17,6%), EU (19,8%), ASEAN (18,1%), Trung Quốc (8,9%), Hồng Kông (7,1%)... Nhập khẩu chính của Phi-líp-pin là: dầu mỏ, than đá, sắt thép, vật liệu xây dựng, thiết bị máy móc, lương thực, hoá chất ..... Đầu tư trực tiếp của nước ngoài vào Phi-líp-pin năm 2004: 688 triệu USD, 2005: 1,13 tỷ USD.

Dịch vụ ở Phi-líp-pin phát triển khá mạnh, chiếm trên 40% GDP. Xuất khẩu lao động rất quan trọng, với trên 5 triệu người lao động ở nước ngoài, mỗi năm ước tính gửi về nước khoảng 10 - 12 tỷ USD.

Từ thập kỷ 70, Phi-líp-pin thúc đẩy chiến lược "hướng vào xuất khẩu", và đã đạt một số kết quả tích cực. Đến năm 1996, tăng GDP đạt 7,1%, dự trữ ngoại tệ đạt 11,6 tỉ USD, FDI đạt 5,5 tỷ USD, thu nhập bình quân đầu người đạt 1090 USD. Từ 1998 đến 2000 do khủng hoảng tài chính-tiền tệ khu vực, kinh tế Phi-lip-pin suy giảm.

Từ 2004 trở lại đây, kinh tế Phi-líp-pin phát triển tương đối khá, đạt mức tăng trưởng 5 –5,5%/năm, GDP năm 2005 đạt 1.080 USD/người. Xuất khẩu tăng khá, đồng Pêsô tăng từ 57 Pêsô/1 USD lên khoảng 50 Pêsô/1 USD.

V. Đối ngoại
Từ năm 1992, Phi-líp-pin điều chỉnh chính sách đối ngoại với phương châm ngoại giao phục vụ phát triển kinh tế; đẩy mạnh quan hệ với các nước láng giềng ở Châu Á - Thái Bình Dương.

Hiện nay, Philippin chủ trương chính sách đối ngoại theo hướng đa dạng hoá, đa phương hoá; coi trọng quan hệ với các nước lớn; thúc đẩy hoà bình, ổn định ở khu vực CA-TBD, phát triển quan hệ với ASEAN.

 

Khu vực: Vùng: Ngôn ngữ: Tổ chức:
Cơ hội đầu tư - kinh doanh
Thông kê truy cập
Số khách đang online: 134
Số lượt khách đã truy cập: 3418695

Cq chủ quản: Sở Công Thương  Nghệ An

Thực hiện: Trung Tâm Xúc Tiến Thương Mại N An

Đc: 70 Nguyễn Thị Minh Khai, Vinh, Nghệ An

Tel: 038.3596628, Fax: 038.3596638,

Email: ntpcnghean@hn.vnn.vn

GP Số:113/GP-TTĐT Cục Phát thanh Truyền hình và TTĐT cấp ngày 09/6/2011.

Chịu trách nhiệm chính : Ô. Nguyễn Trọng Hùng, Giám đốc Trung tâm

Bản quyền:Trung tâm Xúc tiến Thương mại Nghệ An

Nghe An Trade Promotion Centre (NTPC)